- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Văn K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Ngô Văn K. Cho ông Ngô Văn K được ly hôn bà Lê Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2026/HNGĐ-ST Ngày: 23-4-2026 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Ngọc Dung
Ông Đỗ Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Văn K, sinh năm 1984 (xin vắng).
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 06/01/2025.
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 11/4/2025.
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Ngô Văn K trình bày:
- Về hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu nên ông Ngô Văn K và bà Lê Thị H thành hôn với nhau vào năm 2004. Hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 13 tháng 02 năm 2009 (nay là xã T).
Quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau. Xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông và bà H không sống chung với nhau từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay.
Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông K yêu cầu ly hôn với bà H.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Ngô Thị C, sinh ngày 04/02/2005 (nữ) và Ngô Quyền T, sinh ngày 30/10/2009 (nữ). Khi ly hôn đối với Ngô Thị C đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngô Quyền T.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn bà Lê Thị H:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà bà H không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông K. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà H vẫn không tham gia.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Ngô Văn K yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị H nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp xin ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bà H cư trú tại ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.
Ông Ngô Văn K có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố Tụng dân sự xét xử vắng mặt ông K là phù hợp.
Đối với bà Lê Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 02 tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H.
. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Ông Ngô Văn K và bà Lê Thị H kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 13 tháng 02 năm 2009 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113 (nay là xã T). Do đó, hôn nhân giữa ông K và bà H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Ông K yêu cầu ly hôn với bà H vì cuộc sống vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, mỗi người có cuộc sống riêng.
Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa ông K và bà H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, bởi lẽ Tòa án có tổ chức các phiên hòa giải để hàn gắn hôn nhân nhưng bà H vẫn không tham gia, chứng tỏ bà H không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với ông K. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ngô Văn K đối với bà Lê Thị H theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Ông K xác định vợ chồng ông có 02 người con chung tên Ngô Thị C, sinh ngày 04/02/2005 (nữ) và Ngô Quyền T, sinh ngày 30/10/2009 (nữ).
Khi ly hôn con chung Ngô Thị C đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét việc nuôi dưỡng. Đối với cháu Ngô Quyền T đang sống chung với ông K, khi ly hôn ông K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Xét thấy, trong khoảng thời gian ông K và bà H không chung sống với nhau thì cháu T do ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời cháu T có nguyện vọng được sống chung với ông K nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu, giao cháu T cho ông K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp với Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí được khấu trừ, án phí nguyên đơn đã nộp đủ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Ngô Văn K. Cho ông Ngô Văn K được ly hôn bà Lê Thị H.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Ngô Thị C, sinh ngày 04/02/2005 (nữ) và Ngô Quyền T, sinh ngày 30/10/2009 (nữ).
Đối với Ngô Thị C đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét việc nuôi dưỡng.
Giao con chung tên Ngô Quyền T, sinh ngày 30/10/2009 (nữ) cho ông Ngô Văn K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Ngô Văn K phải chịu 300.000 đồng. Ông Ngô Văn K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000106 ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ, án phí hôn nhân ông Ngô Văn K đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 5 – Cà Mau; - Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Cà Mau; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã Tam Giang; - Lưu VT; hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng Ngân |