- Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Phùng Văn C; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 154/2025/HC-ST ngày 04/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…
| TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2026/HC-PT Ngày: 20/3/2026. V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Tấn Long
ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quốc Lập, Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng: bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 252/TLPT-HC ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 154/2025/HC-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 512A/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự: 1. Người khởi kiện: ông Phùng Văn C - sinh năm 1964.
Địa chỉ: thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Phùng Văn C: ông Phạm Hữu H - sinh năm 1997 (văn bản ủy quyền ngày 10/12/2024).
Địa chỉ liên lạc: số E đường Q, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk).
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Duy H1; chức vụ: Phó Chủ tịch (văn bản ủy quyền số 180/QĐ-UBND ngày 18/7/2025). Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị P - sinh năm 1966;
- Ông Phùng Văn T - sinh năm 1991;
Cùng địa chỉ: thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Bà P, ông T đều vắng mặt.
- Công ty TNHH MTV L2.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Phi T1 - sinh năm 1984.
Địa chỉ: số B đường N, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: người khởi kiện ông Phùng Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Ông Phạm Hữu H là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Phùng Văn Cao trình B:
Ông Phùng Văn C bị thu hồi các thửa đất số 150, 151, tờ bản đồ số 10 thuộc thôn F, C, E, Đắk Lắk để thi công công trình tái định canh số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án K tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, toàn bộ quá trình Ủy ban nhân dân huyện E ban hành thông báo thu hồi đất năm 2013 đến khi han hành các Quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Ủy ban nhân dân huyện E không thông báo, không giao nhận và khi kiểm đếm không có sự tham gia của gia đình ông C nên ông không biết nội dung.
Tháng 5/2024, ông C nhận được Quyết định cưỡng chế thu hồi đất thì mới biết các thửa đất do gia đình ông quản lý, sử dụng từ năm 2008 đã bị Ủy ban nhân dân huyện E ban hành quyết định thu hồi và ban hành các phương án phê duyệt.
Ngày 14/6/2024, ông C đến Trung tâm Phát triển quỹ đất để đối thoại các nội dung liên quan đến việc thu hồi đất để thi công công trình nêu trên, cụ thể là việc kiểm đếm đất và tài sản gắn liền với đất không có sự tham gia của ông C nhưng Ủy ban nhân dân huyện E không ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc mà tự kiểm đếm và nhận hồ sơ (Phương án, Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất).
Từ ngày 19/6/2024 đến ngày 3/7/2024, Ủy ban nhân dân huyện E mới tiến hành kiểm đếm theo quy định pháp luật và ngày 22/8/2024, Ủy ban nhân dân xã C ban hành quyết định xác nhận nguồn gốc đất cho ông C.
Ông C đề nghị Tòa án xem xét hủy quyết định thu hồi đất để thi công công trình tái định canh số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án K tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vì diện tích đất trên của ông C đã được khai phá, được canh tác ổn định và là nguồn thu thập chính của gia đình, nên việc thu hồi đất của ông C để giao cho người nơi khác đến canh tác là không hợp lý. Việc thu hồi này khiến gia đình ông Cao L vào tình trạng vô cùng khó khăn trong việc ổn định cuộc sống và canh tác.
Nếu thu hồi đất đối với các thửa đất số 150, 151, tờ bản đồ số 10 thì phải bồi thường cho gia đình ông C theo quy định pháp luật vì những căn cứ sau:
Về nguồn gốc đất:
Hộ gia đình ông C từ H, Cao Bằng chuyển vào xã C vào khoảng đầu năm 2008. Ngày 26/02/2008, ông C có mua lại khoảng 02ha (nay là các thửa đất số 150, 151, 147, 149, tờ bản đồ số 10) từ ông Nông Văn C1 với giá 58.000.000đồng, ông C đã bàn giao đầy đủ tiền cho ông Nông Văn C1 và nhận đất, tài sản trên đất để canh tác ổn định. Đến năm 2012 thì ông C cho con là Phùng Văn T thửa đất số 147 và số 149, tờ bản đồ số 10. Diện tích đất nêu trên được khai phá và canh tác vào mục đích sản xuất nông nghiệp từ 1998 đến nay. Gia đình ông C là hộ dân có hộ nghèo vào năm 2008 đến nay, trực tiếp sản xuất nông nghiệp và dựa vào sản xuất nông nghiệp để sống, không có ngành nghề gì khác.
Các thửa đất nêu trên được gia đình Nông Văn C1 khai phá vào năm 1998, chuyển nhượng cho ông C năm 2008 thể hiện ở các cây trồng đã được kiểm đếm tại biên bản kiểm đếm ngày 01/7/2024. Việc khai phá đất và sử dụng ổn định lâu dài tại diện tích đất trên còn được Trưởng thôn, Phó thôn, Bí thư chi bộ các thời kỳ làm chứng. Việc sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai, không bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính liên quan đến việc sử dụng đất đai.
Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định các thửa đất nêu trên có nguồn gốc của ông C1 khai hoang năm 1998, ông C1 sử dụng ổn định rồi sang nhượng cho ông C vào năm 2008 và ông C sử dụng ổn định đến nay. Căn cứ vào khoản 2 Điều 77 của Luật Đất đai đối với trường hợp sử dụng đất trước ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang được sử dụng. Tại khoản 1 Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 quy định một trong những điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là: hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Luật này mà chưa được cấp. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất thì phải bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định cuộc sống, chuyển đổi nghề cho hộ gia đình ông C theo đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, kể cả có việc lấn chiếm thì tại điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đã quy định: trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban Quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty N1, lâm nghiệp và nay đang sử dụng đất ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở; không có tranh chấp và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; phần diện tích đất đang sử dụng được xác định là đất nông nghiệp thì được công nhận quyền sử dụng đất theo chế độ như quy định đối với trường hợp tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
Do vậy, đối với trường hợp các hộ dân lấn, chiếm sử dụng đất trước ngày 0/7/2004 để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở mà đất này đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh trước đây, nay Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 61, Điều 62 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất được bồi thường về đất.
Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định: “Trường hợp lấn, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.” nên khi Nhà nước thu hồi thì người sử dụng đất phải bồi thường theo khoản 1 Điều 75 của Luật Đất đai.
Và có một số tài sản trên đất được gia đình ông C tạo lập sau năm 2013. Đề nghị cơ quan chức năng bồi thường các tài sản này cho ông C vì ông C không nhận được Thông báo thu hồi đất số 140/TB-UBND ngày 28/10/2013 của Ủy ban nhân dân huyện E nên không biết diện tích đất ông C bị thu hồi. Ngoài ra, căn cứ vào khoản 3 Điều 49 của Luật Đất đai thì sau 3 năm kể từ khi có kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã được công bố mà chưa có quyết định thu hồi đất thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi đất. Trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người dân không bị hạn chế quyền tạo lập tài sản nên các tài sản được tạo lập sau năm 2013 của ông C cũng phải được bồi thường.
Ngày 14/6/2024, ông C nhận được Quyết định số 06/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện E ban hành ngày 07/02/2023 về việc thu hồi đất; Quyết định số 05/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện E ban hành ngày 07/02/2023 và Quyết định số 461/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện E ban hành ngày 04/12/2023 về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pắc T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk không bồi thường về đất, không bồi thường về tài sản gắn liền với đất, không hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm mà cho rằng hộ ông C lấn chiếm đất vào năm 2009 nên chỉ hỗ trợ 50% về đất, hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất với tổng giá trị là 92.904.510đồng là không có căn cứ. Việc không bồi thường về đất, không bồi thường về tài sản gắn liền với đất, không hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông C.
Do đó, ông C khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy một phần Quyết định số 06/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện E ban hành ngày 07/02/2023 về việc thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pắc T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C;
- Hủy một phần Quyết định số 05/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện E ban hành ngày 07/02/2023;
- Hủy một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện E ban hành ngày 04/12/2023 về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pắc T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện E phải ban hành quyết định bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đúng theo quy định pháp luật đối với hộ ông Phùng Văn C.
* Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện E do ông Lê Đình C2 đại diện trình bày:
I. Về trình tự, thủ tục thực hiện thu hồi đất: Ủy ban nhân dân huyện thực hiện đúng, đủ quy trình về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định pháp luật.
II. Về việc bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất và hỗ trợ các chế độ ổn định đời sống và chuyển đổi nghề nghiệp đối với hộ ông Phùng Văn C:
1. Nguồn gốc đất: căn cứ xác nhận số 83/GXN-UBND ngày 09/01/2023 của Ủy ban nhân dân xã C xác nhận đối với hộ ông Phùng Văn C thì toàn bộ diện tích đất thuộc phạm vi thu hồi của tất cả các hộ gia đình có nguồn gốc lấn, chiếm đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao cho Công ty TNHH MTV L2 quản lý theo Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc cho Công ty L2 thuê 137.935.686m2 đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty để sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Theo đó, thời điểm sử dụng đất ổn định từ năm 2009.
2. Căn cứ bồi thường về đất: căn cứ Điều 82 của Luật Đất đai năm 2013: “Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất: Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau:
1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;”
Tại điều 64 của Luật Đất đai năm 2013 quy định:
“Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:
a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; quyền;
b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;
đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;
e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;
h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;
i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.”
Đất của hộ ông Phùng Văn C đang sử dụng thuộc điểm đ khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013 nên không được bồi thường về đất.
2. Căn cứ về bồi thường tài sản gắn liền với đất:
Căn cứ điều 92 của Luật Đất đai năm 2013:
“Điều 92. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất
1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.
2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.
Tài sản gắn liền với đất của hộ ông Phùng Văn C thuộc khoản 1 Điều 92 của Luật Đất đai năm 2013 nên không được bồi thường.
3. Căn cứ về hỗ trợ ổn định đời sống:
Căn cứ khoản 2 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP
“2. Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại các Điều 100, 101 và 102 của Luật Đất đai, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường quy định tại điểm d khoản 1 Điều này thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.”
Diện tích đất thu hồi của hộ ông Phùng Văn C có nguồn gốc lấn chiếm đất của công ty TNHH MTV L2, không thuộc trường hợp được hỗ trợ chế độ này.
4. Căn cứ về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm:
Căn cứ khoản 1 Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP
“Điều 20. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định sau đây:
a) Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;
b) Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương.”
Diện tích đất thu hồi của hộ ông Phùng Văn C không đủ điều kiện được bồi thường về đất nên không thuộc trường hợp được hỗ trợ chế độ này.
Từ các nhận định và căn cứ nêu trên việc ông Phùng Văn Cao B1 Ủy ban nhân dân huyện E ban hành Quyết định bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là không có căn cứ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH MTV L2 trình bày: về trình tự, thủ tục chia sẻ thông tin thửa đất: Công ty TNHH MTV L2 thực hiện đúng, đủ theo quy định pháp luật.
Về việc chia sẻ thông tin về đất, tài sản gắn liền với đất: căn cứ Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc cho Công ty L2 thuê 137.935.686m2 đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty để sử dụng vào mục đích đất nông nghiệp; Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM204409 ngày 18/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; căn cứ công văn số 8668/UBND-NNMT ngày 24/9/2022 về việc thực hiện một số nội dung liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng dự án Hồ C tỉnh Đắk Lắk; căn cứ Công văn số 9601/UBND-NNMT ngày 07/11/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc công tác giải phóng mặt bằng dự án Hồ C trên địa bàn huyện E; căn cứ Công văn số 80/Cty ngày 29/12/2022 về việc cung cấp thông tin phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng công trình khu tái định canh số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án Hồ C theo công văn số 60 ngày 24/11/2022 của xã C. Về việc hộ gia đình lấn chiếm đất để sản xuất nông nghiệp công ty căn cứ các hồ sơ liên quan hiện có tại công ty và Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 204409 ngày 18/7/2008. Về việc nhắc nhở, báo cáo sự việc phía công ty chưa thiết lập hồ sơ xử lý và lưu trữ tại công ty phần diện tích này năm 2018 công ty đã rà soát và dự kiến trả về địa phương quản lý. Công ty đã phối hợp với các ban ngành và Ủy ban nhân dân xã C về việc chia sẻ thông tin thửa đất cũng như kết hợp xác minh thời điểm sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên.
- Bà Hoàng Thị P trình bày: bà đồng ý với quan điểm của người khởi kiện. Bà xin vắng mặt tại quá trình tham gia tố tụng cũng như phiên xét xử.
- Ông Phùng Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không tham gia và không có ý kiến gì coi như từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 154/2025/HC-ST ngày 04/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 4 Điều 59, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật Tố tụng Hành chính; các Điều 62, 63, 64, 67, 69, 82, 92 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 19, Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (đã được sửa đổi năm 2017); điểm d khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 23 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý đất đai; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C: hủy một phần Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 07/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pắc T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E ban hành quyết định phê duyệt phương án hỗ trợ đối với đối với các tài sản trên đất được tạo sau khi có thông báo thu hồi đất, theo như biên bản kiểm tra, thống kê, kiểm đếm tài sản, cây trồng tạo lập trên đất năm 2024 và điều chỉnh tỷ lệ hỗ trợ cây trồng theo quy định của pháp luật.
[2] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C về yêu cầu:
- Hủy một phần Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 07/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E;
- Hủy một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C;
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện E bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2025, ông Phùng Văn C kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu bồi thường, hỗ trợ về đất, bồi thường, hỗ trợ về tài sản, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo bảng giá hiện hành.
Tại phiên tòa phúc thẩm: đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng cho rằng, về phần thủ tục tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C về việc tuyên hủy một phần Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 07/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E; hủy một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C và buộc Ủy ban nhân dân huyện E bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Phùng Văn C, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 154/2025/HC-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Phùng Văn C là ông Phạm Hữu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị P, ông Phùng Văn T và Công ty TNHH MTV L2 đều vắng mặt. Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 225 của Luật Tố tụng Hành chính, quyết định tiến hành phiên toà phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Phùng Văn C, Hội đồng xét xử thấy:
Dự án đầu tư Hồ C, tỉnh Đắk Lắk được Bộ N2 (nay là Bộ N3) phê duyệt tại Quyết định số 1394/QĐ-BNN-XD ngày 15/5/2009. Ngày 28/10/2013, Ủy ban nhân dân huyện E ban hành Thông báo số 140/TB-UBND thông báo chủ trương thu hồi đất của Công ty TNHH một thành viên L2 để thực hiện dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3. Ngày 29/12/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 3750/QĐ-UBND về việc ủy quyền phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, ủy quyền thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Ngày 07/02/2023, Ủy ban nhân dân huyện E ban hành Quyết định số 06/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của Công ty TNHH MTV L2 (trong đó có các thửa đất số 150, 151 do hộ ông Phùng Văn Cao L1, chiếm sử dụng) để phục vụ thi công công trình khu tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Mục đích thu hồi đất nhằm phục vụ cho thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Xét việc Ủy ban nhân dân huyện E ban hành Quyết định số 06/QĐ-UBND nêu trên là có căn cứ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục về thu hồi đất theo quy định tại Điều 62, Điều 63, Điều 69 của Luật Đất đai năm 2013. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 06/QĐ-UBND nêu trên đối với hộ ông Phùng Văn C, là có cơ sở.
Đối với kháng cáo của ông Phùng Văn C yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk) phải bồi thường về đất; bồi thường về tài sản gắn liền với đất; hỗ trợ ổn định đời sống; hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về nguồn gốc đất: tại Giấy xác nhận số 83/GXN-UBND ngày 09/01/2023, Giấy xác nhận số 08/GXN-UBND ngày 26/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã C cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: hộ ông Phùng Văn C bị thu hồi các thửa đất số 150, 151, tờ bản đồ số 10 tại xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk). Trong đó: diện tích thực tế bị thu hồi tại thửa đất số 150 là 3.148,0m2 và thửa đất số 151 là 5.214,8m2. Các thửa đất nêu trên đều nằm trong tổng diện tích 137.935.686m2 đất Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao cho Công ty L2 thuê tại Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/7/2008 cho Công ty để sử dụng và mục đích nông nghiệp, thời hạn sử dụng đất 50 năm đến ngày 15/10/2043, Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm. Ngày 07/02/2023, Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 06/QĐ-UBND về việc thu hồi 68.253,1m2 đất của Công ty TNHH MTV L2 để phục vụ thi công công trình khu tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có phần diện tích đất của hộ gia đình ông Phùng Văn C đang canh tác. Do đó, ông Phùng Văn C cho rằng các thửa đất số 150, 151 có nguồn gốc của gia đình ông nhận chuyển nhượng từ ông Nông Văn C1 là không đúng.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: các thửa đất này do Nhà nước giao cho tổ chức để quản lý; không phải đất được giao, công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân. Hộ ông Phùng Văn C đã lấn, chiếm đất công thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013 nên hộ ông Phùng Văn C không được bồi thường về đất và không được bồi thường tài sản gắn liền với đất là đúng quy định tại khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 92 của Luật Đất đai năm 2013. Vì vậy, ông Phùng Văn C kháng cáo yêu cầu hủy một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E để được bồi thường về đất và bồi thường tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất bị thu hồi của ông là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với mức hỗ trợ về đất thì thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời điểm sử dụng đất của hộ ông Phùng Văn C từ năm 2008 là có cơ sở, phù hợp với lời trình bày của ông Phùng Văn C và các Biên bản kiểm đếm tài sản năm 2022, năm 2024. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân huyện E ban hành Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 về việc phê duyệt phương án bổ sung, hỗ trợ về đất cho hộ ông Phùng Văn Cao B2 50% theo giá đất tại bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành là đúng quy định tại khoản 2 Điều 20 Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ban hành kèm theo Quyết định số 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C về việc hủy một phần Quyết định số 461 nêu trên đối với hộ ông Phùng Văn C là có cơ sở.
Do hộ ông Phùng Văn C không đủ điều kiện được bồi thường về đất nên không thuộc trường hợp được hỗ trợ ổn định đời sống; hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ.
Đối với tài sản tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện hỗ trợ đối với các tài sản được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất theo như biên bản kiểm tra, thống kê, kiểm đếm tài sản, cây trồng tạo lập trên đất năm 2024 và điều chỉnh tỷ lệ hỗ trợ cây trồng theo quy định của pháp luật, là đúng. Ông Phùng Văn C cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không nêu rõ phải hỗ trợ cây trồng theo bảng giá năm nào, nhưng xét thấy: việc áp dụng bảng giá năm nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk khi ban hành lại quyết định.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C và xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 07/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E, hủy một phần Quyết định số 461 và buộc Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk phải bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất; hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Phùng Văn C như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Do toàn bộ nội dung kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra ông Phùng Văn C phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Nhưng xét, ông C là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các Quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính,
Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Phùng Văn C; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 154/2025/HC-ST ngày 04/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Áp dụng các Điều 62, 63, 64, 67, 69, 82, 92 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 19, Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (đã được sửa đổi năm 2017); điểm d khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 23 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C: hủy một phần Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 07/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pắc T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E ban hành quyết định phê duyệt phương án hỗ trợ đối với đối với các tài sản trên đất được tạo sau khi có thông báo thu hồi đất, theo như biên bản kiểm tra, thống kê, kiểm đếm tài sản, cây trồng tạo lập trên đất năm 2024 và điều chỉnh tỷ lệ hỗ trợ cây trồng theo quy định của pháp luật.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn C về việc yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy một phần Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 07/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E về việc thu hồi đất để thi công công trình khu tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
- Hủy một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện E về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T3 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Phùng Văn C;
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện E (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk) bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất; hỗ trợ ổn định đời sống; hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.
3. Về án phí: miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Phùng Văn C.
4. Các Quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
| - Toà án nhân dân tối cao; - Viện CT và KSXXPT tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Liên |