- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn nam - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Lù Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày 27-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Phạm Thị Thao
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Lù Văn N, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1995 tại S; nơi cư trú: Số nhà 63, bản Panh, xã Chiềng Xôm, thành phố S, tỉnh S (nay là phường Chiềng An, tỉnh S); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Lù Văn Đ (đã chết) và bà Cà Thị N; chưa có vợ con; Nhân thân: Tại Bản án số 49/2011/HS-ST ngày 16/12/2011 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản (thời điểm phạm tội N chưa đủ 18 tuổi) - được coi là không có án tích; tại Bản án số 106/2012/HSST ngày 18/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt trị giá 450.000 đồng). Tổng hợp với hình phạt tại bản án số 49/2011/HS-ST ngày 16/12/2011 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 12 tháng tù (thời điểm phạm tội N chưa đủ 18 tuổi) - được coi là không có án tích; tại Bản án số 25/2013/HSST ngày 03/12/2013 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ngày phạm tội 08/11/2013; tài sản chiếm đoạt trị giá 500.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2014; án phí hình sự sơ thẩm đã thi hành xong ngày 17/01/2014) đã xoá án tích; tiền án: Tại Bản án số 23/2015/HSST ngày 14/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ngày phạm tội 25/12/2014; tài sản chiếm đoạt trị giá 50.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2015; án phí hình sự sơ thẩm đã thi hành xong ngày 12/3/2015); tại Bản án số 93/2016/HSST ngày 23/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh S xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ngày phạm tội 05/4/2016; tài sản chiếm đoạt trị giá 500.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2017; án phí hình sự sơ thẩm đã thi hành xong ngày 11/7/2016); tại Bản án số 111/2017/HSST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (ngày phạm tội 09/4/2017; chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/10/2024; án phí hình sự sơ thẩm đã thi hành xong ngày 26/9/2017) đều chưa xoá án tích; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/5/2025, đến ngày 24/5/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1994, nơi cư trú: Số 57 Mê L, phường A, quận L(nay là phường Lê Chân), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/5/2025, Lù Văn N một mình đi đến phòng tập Joe Fitness tại tầng 21 tòa nhà Cát Bi Plaza, địa chỉ: số 1 Lê Hồng Phong, phường Gia Viên, Quận Ngô Quyền (nay là phường Gia Viên), thành phố Hải Phòng tập thể dục. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, N quan sát thấy anh Nguyễn Đức L (sinh năm 1994, nơi cư trú: số 57 Mê L, phường A, Quận Lê Chân, nay là Phường Lê Chân, thành phố Hải Phòng) để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax ở trên bục gỗ gần khu vực máy chạy bộ. Do anh L đang tập, lơ là trong việc trông coi tài sản, phòng tập vắng người nên N nảy sinh ý Đ chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền ăm tiêu. N đã tiếp cận và dùng tay trái lấy chiếc điện thoại của anh L rồi cất giấu vào túi bên phải quần đang mặc và nhanh chóng đi khỏi phòng tập. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/5/2025, N mang chiếc điện thoại chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại của anh Vũ Khắc Điệp (sinh năm 1999, nơi cư trú: Giang Khẩu, xã Quyết Thắng, thành phố Hải Phòng) tại số 79 Đà Nẵng, Phường Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để nhờ bẻ khoá mật khẩu của điện thoại và bán cho anh Điệp. Khi anh Điệp đang trao đổi với N về việc không mua chiếc điện thoại này thì N bị nhân viên phòng tập phát hiện, thông báo cho anh L và Công an phường Gia Viên đến đưa về trụ sở Công an phường Gia Viên làm việc. Quá trình làm việc, N giao nộp cho Công an phường Gia Viên 01 quần đùi màu đen, 01 áo phông màu xanh, 01 đôi giày thể thao màu đen.
Tại bản kết luận Đ giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2025 của Hội đồng Đ giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận Ngô Quyền kết luận: “01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 9.000.000 đồng”.
Ngày 19/5/2025, đại diện phòng tập giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 chiếc USB bên trong ghi nhận hình ảnh camera an ninh tại phòng tập Joe Fitness vào thời điểm Lù Văn N trộm cắp tài sản.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đức L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã ra Quyết Đ xử lý vật chứng trả lại cho anh L.
- Chuyển Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng bảo quản chờ xử lý: 01 quần đùi màu đen, 01 áo phông màu xanh, 01 đôi giày thể thao màu đen thu giữ của Lù Văn N.
Về phần dân sự: anh Nguyễn Đức L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 09/9/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lù Văn N về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bị hại anh Nguyễn Đức L vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lù Văn N mức án từ 48 đến 54 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn Đ nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy Đ tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về việc bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 quần đùi màu đen, 01 áo phông màu xanh, 01 đôi giày thể thao màu đen thu giữ của Lù Văn N.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết Đ tố tụng:
[1] Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết Đ khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy Đ của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về căn cứ xác Đ tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 50 phút ngày 19/5/2025, Lù Văn N đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 của anh Nguyễn Đức L tại phòng tập Joe Fitness tại tầng 21 tòa nhà Cát Bi Plaza, địa chỉ: số 1 Lê Hồng Phong, phường Gia Viên, Quận Ngô Quyền, nay là phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng. Tại bản kết luận Đ giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2025 của Hội đồng Đ giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 9.000.000 đồng”. Tại Bản án số 23/2015/HSST ngày 14/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 93/2016/HSST ngày 23/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh S xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 111/2017/HSST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản chưa được xoá án tích. Vì vậy hành vi của bị cáo phải chịu tình tiết Đ khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy Đ tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đối với bị cáo Lù Văn N về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy Đ của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- Về tình tiết tăng nặng:
[5] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:
[6] Nhân thân bị cáo có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, tại thời điểm phạm tội N chưa đủ 18 tuổi, được coi là không có án tích; 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản đã được xoá án tích, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy Đ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Đức L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn Đ nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy Đ tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án:
[9] Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 quần đùi màu đen, 01 áo phông màu xanh, 01 đôi giày thể thao màu đen thu giữ của Lù Văn N.
- Về án phí:
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ:
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố Lù Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Lù Văn N 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 5 năm 2025.
-Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 quần đùi màu đen, 01 áo phông màu xanh, 01 đôi giày thể thao màu đen thu giữ của Lù Văn N đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Hải Phòng (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 10/9/2025)
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Lù Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Lù Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy Đ của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND Khu vực 3 – Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - CQCSĐT Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THA Hình sự Công an thành phố Hải Phòng; - Thi hành án thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |