vanban.org

Bản án 84/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Bé Tư, cho chị Trương Thị Bé Tư ly hôn với anh Tô Viết Lãm.

Về con chung: Giao 01 người con chung của chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm, giới tính nữ (hiện tên gọi là Trương Ngọc Trâm) cho chị Trương Thị Bé Tư trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Tô Viết Lãm không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Bé Tư - Tô Viết Lãm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Bé Tư, cho chị Trương Thị Bé Tư ly hôn với anh Tô Viết Lãm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2025
“V/v xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Hoàng Sơn

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng - Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, về việc Tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Bé Tư, sinh ngày 22/11/2001 (có mặt).

Địa chỉ cư trú hiện tại: Số 78/16, Nguyễn Thị Tú, phường Bình Hưng Hòa, Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Tô Viết Lãm, sinh ngày 29/02/2000 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Cái Nai, xã Hoà Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trương Thị Bé Tư trình bày:

Về hôn nhân: Chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2023, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2023. Hôn nhân tự nguyện. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sự việc đã được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Hiện chị Tư và anh Lãm đã ly thân khoảng 01 năm. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị Trương Thị Bé Tư yêu cầu xin ly hôn với anh Tô Viết Lãm.

Về con chung: Chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm có 01 người con chung tên Trương Ngọc Trâm, sinh ngày 23/10/2023. Tên con chung đặt trong ngày đầy tháng, thực tế thì nguyên đơn chưa làm Giấy khai sinh cho con chung, lý do chờ ly hôn xong mới làm. Hiện cháu Trâm đang sống với chị Tư. Khi ly hôn, chị Tư yêu cầu được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Tư không yêu cầu anh Lãm cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Trương Thị Bé Tư xác định chị và anh Tô Viết Lãm không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Trương Thị Bé Tư xác định chị và anh Tô Viết Lãm không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Tô Viết Lãm trình bày:

Về hôn nhân: Anh Tô Viết Lãm và chị Trương Thị Bé Tư đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2023, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2023. Hôn nhân tự nguyện. Trong thời gian vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sự việc đã được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện chị Tư và anh Lãm đã ly thân khoảng 01 năm nay. Tuy nhiên, anh Lãm vẫn còn thương vợ và con còn nhỏ nên không đồng ý ly hôn với chị Tư.

Về con chung: Anh Tô Viết Lãm và chị Trương Thị Bé Tư có 01 người con chung tên Trương Ngọc Trâm, sinh ngày 23/10/2023. Hiện cháu Trâm đang sống với chị Tư. Khi ly hôn, anh Lãm yêu cầu được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Lãm không yêu cầu chị Tư cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Tô Viết Lãm xác định anh và chị Trương Thị Bé Tư không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Tô Viết Lãm xác định anh và chị Trương Thị Bé Tư không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2023, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2023. Hôn nhân tự nguyện. Chị Tư xác định, thời gian vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, nên chị Trương Thị Bé Tư yêu cầu xin ly hôn với anh Tô Viết Lãm. Đối với anh Tô Viết Lãm không đồng ý ly hôn với chi Tư, lý do còn thương chị Tư và con còn nhỏ. Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn giữa chị Tư và anh Lãm đã được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Hiện tại, chị Tư và anh Lãm đã ly thân, mỗi người sống một nơi. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Tư và anh Lãm đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, chị Tư xác định không còn tình cảm với anh Lãm và kiên quyết xin ly hôn với anh Lãm. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Tư, cho chị Tư ly hôn với anh Lãm.

Chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm cùng xác định anh, chị có 01 người con chung, giới tính nữ, tên gọi ở gia đình là Trương Ngọc Trâm, sinh ngày 23/10/2023, hiện chưa làm Giấy khai sinh. Khi ly hôn, chị Tư yêu cầu được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Tư không yêu cầu anh Lãm cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy: Tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…..”. Tại phiên tòa, anh Lãm cũng xác định hiện con chung đang do chị Tư nuôi dưỡng, cháu phát triển tốt. Chị Tư và anh Lãm không thỏa thuận được với nhau về việc ai là người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị Tư, giao con chung của chị Tư và anh Lãm cho chị Tư trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là thỏa đáng, đúng quy định pháp luật.

Chị Tư không yêu cầu anh Lãm cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm xác định anh, chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm xác định anh, chị không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ NQ số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Bé Tư, cho chị Trương Thị Bé Tư ly hôn với anh Tô Viết Lãm.

Về con chung: Giao 01 người con chung của chị Trương Thị Bé Tư và anh Tô Viết Lãm, giới tính nữ (hiện tên gọi là Trương Ngọc Trâm) cho chị Trương Thị Bé Tư trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Tô Viết Lãm không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Bé Tư phải nộp 300.000 đồng. Ngày 10/02/2025, chị Tư có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010255, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu nộp Ngân sách nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ