vanban.org

Bản án 84/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 25/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Hoa T ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Về quan hệ con chung: Giao con chung của vợ chồng là Hoàng Tường V, sinh ngày 12/6/2018 cho chị Trần Thị Hoa T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không buộc anh Hoàng Văn H cấp dưỡng nuôi con cùng chị Trần Thị Hoa T do chị T không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Hoa T yêu cầu ly hôn anh Hoàng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Hoa T ly hôn với anh Hoàng Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 4 - 2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thí và ông Mai Văn Ngọc.

Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Lệ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2024 về việc “Ly hôn”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoa T, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1998; địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, hiện cư trú tại: 9 M, O-cho, thành phố E, tỉnh Hiroshima, Japan (Nhật Bản); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn, Bản tự khai, quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên toà, nguyên đơn - chị Trần Thị Hoa T trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn H tìm hiểu, yêu nhau tự nguyện và đã kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 27/3/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì đến đầu năm 2022, chồng chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu vợ chồng có liên lạc với nhau qua điện thoại, tình cảm vẫn bình thường. Đến cuối 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi và liên lạc ít dần. Nguyên nhân là do vợ chồng sống xa nhau và thiếu sự tin tưởng lẫn nhau về mặt tình cảm và kinh tế. Tình trạng vợ chồng lạnh nhạt kéo dài và không còn khả năng khắc phục. Vì vậy, chị làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H. Vợ chồng anh chị có 01 con chung tên là Hoàng Tường V, sinh ngày 12/6/2018. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình chung sống vợ chồng chưa tôn tạo được tài sản chung gì, không có nợ chung, do đó không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Văn H hiện đang làm việc và cư trú tại 980-4 M, O-cho, thành phố E, tỉnh Hiroshima, Japan (Nhật Bản). Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với bị đơn - anh Hoàng Văn H, tuy nhiên, cho đến nay Toà án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của anh H phản hồi. Tại phiên tòa lần thứ 2 anh H tiếp tục không có mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Phía bị đơn mặc dù đã được tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt và không có ý kiến phản hồi cho Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn - chị T vắng mặt nhưng đã có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; phía bị đơn - anh Hoàng Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn không có mặt, vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 58, 121, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Trần Thị Hoa T được ly hôn anh Hoàng Văn H. Giao con chung là Hoàng Tường V cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, do chị T cam kết có đủ khả năng nuôi dưỡng con trưởng thành và không buộc anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị T; về tài sản chung của vợ chồng do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Buộc các đương sự chịu án phí và lệ phí tố tụng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Theo Công văn số: 2991/CV-QLXNC ngày 29/10/2024 của Phòng Quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Q thì anh Hoàng Văn H đã xuất cảnh ra nước ngoài lần gần đây nhất từ ngày 30/4/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước; chị Trần Thị Hoa T cung cấp địa chỉ của anh Hoàng Văn H hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành phương thức tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua cơ quan Đ tại Nhật Bản để tống đạt và thu thập chứng cứ đối với anh Hoàng Văn H theo quy định tại khoản 1 Điều 474, Điều 475 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không có kết quả. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị cơ quan Đ tại Nhật Bản tiến hành niêm yết công khai đơn khởi kiện của chị T, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ đối với anh H tại Đ ở Nhật Bản và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan này.

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng tại nơi cư trú trước khi xuất cảnh của bị đơn và thông báo cho anh H biết về thời gian, địa điểm giải quyết vụ việc ly hôn giữa chị T và anh trên Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia qua Đ1 VOV5 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là 09,10,11/01/2025 nhưng vẫn không nhận được thông tin gì từ anh H. Phía nguyên đơn - chị Trần Thị Hoa T cũng có Đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 và các điểm b, c khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị Hoa T.

Về nội dung: [2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Hoa T và anh Hoàng Văn H là hợp pháp. Sau khi vợ chồng kết hôn và chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu bất đồng quan điểm sống, không hiểu nhau. Đặc biệt kể từ khi anh H đi làm ăn ở nước ngoài thì vợ chồng ít liên lạc, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Hiện tại giữa chị T và anh H không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh H.

. Về quan hệ con chung: Giữa chị Trần Thị Hoa T và anh Hoàng Văn H có 01 con chung tên là Hoàng Tường V, sinh ngày 12/6/2018. Nguyện vọng của chị T là sau khi ly hôn được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện tại anh H đang ở nước ngoài không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, cần căn cứ Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Hoàng Tường V cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con vì chị có đủ khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con một mình, vì vậy, không buộc anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị T.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. [2.3]. Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị Hoa T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không nợ nần chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí, lệ phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài: Chị Trần Thị Hoa T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài theo quy định của khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 và Nghị quyết số: 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Hoa T và anh Hoàng Văn H có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 474; Điều 475; điểm b, c khoản 5 Điều 477; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 57, 58, 121, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Hoa T ly hôn với anh Hoàng Văn H.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung của vợ chồng là Hoàng Tường V, sinh ngày 12/6/2018 cho chị Trần Thị Hoa T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không buộc anh Hoàng Văn H cấp dưỡng nuôi con cùng chị Trần Thị Hoa T do chị T không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí, lệ phí uỷ thác tư pháp:

- Chị Trần Thị Hoa T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004950 ngày 21/6/2024. Chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Chị Trần Thị Hoa T phải chịu 3.867.000 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài và chi phí thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ1. Số tiền này chị T đã nộp đủ.

5. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, chị Trần Thị Hoa T có quyền kháng cáo bản án này trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đinh; anh Hoàng Văn H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Cục THADS tỉnh Quảng Bình;

- Các đương sự;

- Lưu.

Nguyễn Xuân Diệu

Cỡ chữ