- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 4 - 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm
2. Ông Nguyễn Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1994
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Tấn P, sinh năm 1987
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do mai mối nên chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 16/4/2015. Sau khi kết hôn, chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P chung sống tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến khoảng đầu tháng 11/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Tấn P thường xuyên có tính gia trưởng, không tôn trọng lắng nghe ý kiến của vợ, không quan tâm đến vợ, không tôn trọng cha mẹ vợ. Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Đến khoảng giữa tháng 11/2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P; bản thân chị Phạm Thị Kim T có cho anh Trần Tấn P cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Trần Tấn P không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Thị Kim T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Tấn P.
Về con chung: Chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P có 01 (một) con chung Trần Tấn L, sinh ngày 13/7/2016. Hiện nay, con chung đang sống với anh Trần Tấn P. Khi ly hôn, chị Phạm Thị Kim T đồng ý để anh Trần Tấn P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị Phạm Thị Kim T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.
Anh Trần Tấn P vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Phạm Thị Kim T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Trần Tấn P vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T. Về quan hệ hôn nhân, chị Phạm Thị Kim T được ly hôn với anh Trần Tấn P. Về con chung, anh Trần Tấn P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Tấn L, sinh ngày 13/7/2016; chị Phạm Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung tên Trần Tấn L, anh Trần Tấn P có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 23/4/2025 xác định, anh Trần Tấn P hiện nay vẫn còn cư trú và đăng ký thường trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú và điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Trần Tấn P tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chị Phạm Thị Kim T khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Trần Tấn P là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Trần Tấn P (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với anh Trần Tấn P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Kim T đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trần Tấn P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu được ly hôn với anh Trần Tấn P của chị Phạm Thị Kim T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Phạm Thị Kim T cho rằng, chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến đầu tháng 11/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Tấn P có tính gia trưởng, không tôn trọng lắng nghe ý kiến của vợ, không quan tâm đến vợ, không tôn trọng cha mẹ vợ. Đến khoảng giữa tháng 11/2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P, đồng thời, bản thân chị Phạm Thị Kim T có cho anh Trần Tấn P cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Trần Tấn P không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Thị Kim T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Tấn P.
Anh Trần Tấn P đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T.
Xét thấy, chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Trần Tấn P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P theo quy định của pháp luật nhưng anh Trần Tấn P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Trần Tấn P không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P nên lời trình bày của chị Phạm Thị Kim T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Phạm Thị Kim T yêu cầu ly hôn anh Trần Tấn P phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Xét ý kiến của chị Phạm Thị Kim T về việc đồng ý để anh Trần Tấn P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Phạm Thị Kim T xác định chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P có 01 (một) con chung tên Trần Tấn L, sinh ngày 13/7/2016, hiện nay đang sống với anh Trần Tấn P. Khi ly hôn, chị Phạm Thị Kim T đồng ý để anh Trần Tấn P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị Phạm Thị Kim T không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Tấn P vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị Phạm Thị Kim T, con chung hiện nay đang sống với anh Trần Tấn P; quá trình sinh sống với anh Trần Tấn P, con chung vẫn phát triển tốt; đồng thời, căn cứ Biên bản ghi nhận ý kiến của con chung ngày 23/4/2025, cháu Trần Tấn L có nguyện vọng được sống với anh Trần Tấn P. Để giúp cháu Trần Tấn L phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Phạm Thị Kim T đồng ý để anh Trần Tấn P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trần Tấn P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Phạm Thị Kim T và anh Trần Tấn P ly hôn nên chị Phạm Thị Kim T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng do anh Trần Tấn P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Phạm Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T được ly hôn anh Trần Tấn P.
[2] Về con chung:
Anh Trần Tấn P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Tấn L, sinh ngày 13/7/2016. Hiện nay đang sống với anh Trần Tấn P.
Chị Phạm Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Trần Tấn P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Phạm Thị Kim T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0023921 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Đương sự; - UBND xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |