vanban.org

Bản án 84/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đối với ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N.

Buộc ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H khoản nợ tính đến ngày 24/9/2025 là 1.561.514.101 đồng. Trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trong hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng. Kể từ ngày tiếp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP phát triển H - Trần Hữu Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đối với ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/DS-ST
Ngày 24 tháng 9 năm 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Hội thẩm nhân dân: ÔngVõ Minh Sơn

Ông Lê Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 409/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát Triển Thành phố H (H)

Địa chỉ: B B, N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là B B, N, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh).

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền:

+ Ông Dương Đức L - Trưởng phòng KHCN; Địa chỉ liên lạc: Số G, Cầu S, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số G, Cầu S, phường B, tỉnh Cà Mau)

+ Bà Cao Ngọc C – Chuyên viên Quan hệ khách hàng Cá nhân; Địa chỉ liên lạc: Số F, N, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số F, N, phường B, tỉnh Cà Mau).

2. Bị đơn: Ông Trần Hữu Đ, sinh ngày 06/01/1987; Bà Phan Thị N, sinh năm 1989

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp P, xã H, tỉnh Cà Mau)

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát Triển Thành phố H và ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 29/7/2022, chi tiết như sau: Số tiền vay là 1.500.000.000 đồng; mục đích vay sửa chữa nhà; thời hạn vay là 420 tháng; lãi suất vay 12,6%/năm; lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất cho vay cố định hoặc điều chỉnh và lãi phạt được quy định cụ thể trong các khế ước nhận nợ ngày 02/08/2022.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, bà ông Đ, bà N đã ký kết với H hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 29/7/2022. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 870082 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2020, thửa đất số 148, tờ bản đồ số 14, diện tích 80m2; đất tại khu dân cư T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là ông Trần Hữu Đ và bà Phan Thị N.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 02/12/2024, đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 02/12/2024.

Đến ngày 24/9/2025 ông Đ và bà N còn nợ tổng số tiền là 1.561.514.101 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trọng hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng).

H yêu cầu buộc ông Đ và bà N trả số tiền nợ vay tạm tính đến ngày 24/9/2025 là 1.561.514.101 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trọng hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2025 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

Trường hợp ông Đ và bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì H được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay.

Bị đơn ông Trần Hữu Đ và bà Phan Thị N vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật:

Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đối với ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N. Buộc ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền 1.561.514.101 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trọng hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/9/2025 ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N không thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về chi phí tố tụng, về án phí, bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H (Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N trả số nợ vay theo hợp đồng đã ký kết. Hợp đồng được thực hiện tại phường B, tỉnh Cà Mau. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.

Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Cho nên, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét hợp đồng tín dụng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H và ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 29/7/2022, chi tiết như sau: Số tiền vay là 1.500.000.000 đồng; mục đích vay sửa chữa nhà; thời hạn vay là 420 tháng; lãi suất vay 12,6%/năm; lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất cho vay cố định hoặc điều chỉnh và lãi phạt được quy định cụ thể trong các khế ước nhận nợ ngày 02/08/2022.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.

Ngân hàng xác định do ông Đ, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ 02/12/2024, đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 02/12/2024. Tính đến ngày 24/9/2025 ông Đ, bà N còn nợ số tiền là 1.561.514.101 đồng. Trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trọng hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng.

Ông Đ, bà N vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ nào thể hiện có trả đủ tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Đ, bà N trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/9/2025 là 1.561.514.101 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trọng hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2025 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ, xét thấy là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, bà ông Đ, bà N đã ký kết với H hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 29/7/2022. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 870082 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2020, thửa đất số 148, tờ bản đồ số 14, diện tích 80m2; đất tại khu dân cư T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là ông Trần Hữu Đ và bà Phan Thị N.

Qua kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ phần đất thế chấp thấy rằng phần đất và tài sản gắn liền với đất vẫn do ông Đ, bà N đang quản lý sử dụng.

Hợp đồng thế chấp có chứng thực theo quy định, được đăng ký thế chấp đúng quy định. Cho nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Nếu ông Đ, bà N không thanh toán nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng. Ông Đ, bà N phải chịu. Ngân hàng đã nộp và chi xong, ông Đ, bà N có trách nhiệm giao trả lại cho Ngân hàng số tiền 600.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 40; Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

- Khoản 2 Điều 100; Điều 102; Điều 103; điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đối với ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N.

2. Buộc ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H khoản nợ tính đến ngày 24/9/2025 là 1.561.514.101 đồng. Trong đó, nợ gốc là 1.403.609.999 đồng, nợ lãi trong hạn là 154.924.108 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.979.994 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/9/2025 ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3. Trường hợp ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N không thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ, bao gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 870082 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2020, thửa đất số 148, tờ bản đồ số 14, diện tích 80m2; đất tại khu dân cư T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là ông Trần Hữu Đ và bà Phan Thị N.

Ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N có trách nhiệm giao tài sản thế chấp để cơ quan có thẩm quyền tiến hành bán đấu giá theo quy định.

4. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng. Ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N phải chịu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đã nộp và chi xong. Ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N có trách nhiệm giao trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền 600.000 đồng.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Hữu Đ, bà Phan Thị N phải chịu 58.845.423 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H không phải chịu án phí. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 28.461.000 đồng theo biên lai số 0000516 ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được hoàn lại.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ