vanban.org

Bản án 84/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Văn M: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo sơ mi ngắn tay, 01 (một) quần jean dài (đã qua sử dụng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn M: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 10/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Bùi Diệu Huệ và bà Lê Thị Tý

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng -Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mã Văn Thuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn M; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không đăng ký; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Trần Văn N, sinh năm: 1962; Họ và tên mẹ: Vi Phụng M, sinh năm: 1959; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không

- Nhân thân: Ngày 16/7/2020, bị Công an xã TTH, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 0023778/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với M số tiền 1.250.000 đồng do có hành vi trộm cắp tài sản quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 04/8/2020 M đã thực hiện nộp phạt theo Biên lai thu thuế, phí, lệ phí, và thu phạt vi phạm hành chính số 0573216 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cần Giờ.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 14/11/2023, tạm giam từ ngày 23/11/2023 (Bị cáo có mặt);

* Những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Anh Nguyễn Sĩ T, sinh năm: 1986;

Địa chỉ: 9xx TKTQ, phường BHHA, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 12/11/2023, Trần Văn M điều khiển xe đạp từ nhà trọ không số ấp x, xã PVH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí M đi qua nhiều tuyến đường để nhặt ve chai bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 04 giờ ngày 13/11/2023, khi đến trước nhà địa chỉ số 9xx TKTQ, phường BHH, quận Bình Tân M phát hiện anh Nguyễn Sĩ T đang trong trạng thái say rượu ngủ trước nhà địa chỉ số 9xx TKTQ, phường BHH, cách nơi anh T đang ngủ khoảng 1.5 mét anh T có để một chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển số 75K5 - 99xx chìa khóa còn gắn trên ổ khóa xe. Lúc này, M nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên bán lấy tiền tiêu xài. M đi đến dẫn chiếc xe mô tô Yamaha Sirius ra ngoài, dùng dây cột chiếc xe đạp của M vào chiếc xe mô tô sau đó điều khiển xe mô tô trộm được chở xe đạp của M đi ra hướng Quốc Lộ 1 bỏ trốn. Khi M di chuyển trên đường QL1 đến trước địa chỉ số 9xx QL1, phường TT, quận Bình Tân thì bị lực lượng Hình sự đặc nhiệm Công an quận Bình Tân đang tuần tra phát hiện biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua làm việc M không xuất trình được giấy tờ tùy thân và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên nên M được đưa về trụ sở Công an phường BHH để lập hồ sơ xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, bị can Trần Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

- 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K5 – 99xx, đã qua sử dụng. Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Bình Tân số 410/KL-HĐĐGTS ngày 20/11/2023 xác định: 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K5 – 99xx, đã qua sử dụng trị giá 4.500.000 đồng. Theo kết luận giám định số 6728/KL-KTHS ngày 01/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự CATP.HCM xác định chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển số 75K5 - 99xx, đã qua sử dụng, số khung: RLCS5C6107Y124xxx, số máy: 5C61124xxx, kết luận: số khung không bị đục lại số, số máy không bị đục lại số. Tại phiếu trả lời xác minh xe ngày 24/11/2023 của Đội Cảnh sát giao thông quận Bình Tân, TPHCM, xác định xe mô tô biển số 75K5 – 99xx: Chủ xe: Hoàng Thị Hồng G, địa chỉ: AĐ, HC, HT. Nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirirus, màu sơn: đỏ bạc, số khung: RLCS5C6107Y124xxx, số máy: 5C61124xxx. Chị G là vợ anh T, chị G xác nhận đây là tài sản chung của vợ chồng. Ngày 13/11/2023 anh T sử dụng xe đi làm thì bị M lấy trộm. Cơ quan CSĐT Công an quận Bình Tân đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho vợ chồng anh Nguyễn Sĩ T và chị Hoàng Thị Hồng G, anh T và chị Gấm không yêu cầu gì thêm về dân sự;

- 01 (Một) xe đạp martin đã qua sử dụng. Đây là phương tiện của M sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

- 01 (Một) áo sơ mi ngắn tay, 01 (một) quần jean dài. Đây là quần áo M mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn M ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo M, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo M với mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng; Về hình phạt bổ sung và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

Bị cáo M không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi: Vào khoảng 04 giờ 00 ngày 13/11/2023, tại trước nhà địa chỉ số 9xx TKTQ, phường BHH, quận Bình Tân, Thành phố Hồ chí Minh, Trần Văn M đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K5 – 99xx thì bị phát hiện, bắt giữ, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án.

Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Bình Tân số 410/KL-HĐĐGTS ngày 20/11/2023 xác định: 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K5 – 99xx, đã qua sử dụng trị giá 4.500.000 đồng

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tổng tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 4.500.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo M thuộc trường hợp cố ý phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa cho toàn xã hội.

Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu, do đó phải có mức án thật nghiêm đối với bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Về trách nhiệm dân sự: vợ chồng anh Nguyễn Sĩ T và chị Hoàng Thị Hồng G đã được nhận lại xe, anh T và chị G không yêu cầu gì thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 (Một) xe đạp martin đã qua sử dụng, đây là phương tiện bị cáo M sử dụng để đi nhặt ve chai, không liên quan đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét trả lại cho bị cáo M;

- Đối với: 01 (Một) áo sơ mi ngắn tay, 01 (một) quần jean dài. Đây là quần áo M mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

Về án phí: Bị cáo Trần Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn M: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo sơ mi ngắn tay, 01 (một) quần jean dài (đã qua sử dụng).

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn M: 01 (Một) xe đạp martin đã qua sử dụng.

(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK24/109TAM ngày 04/03/2024).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ