vanban.org

Bản án 84/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn X D phạm tội Cướp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn X D 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2024. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dọc giấy vỏ nhựa màu hồng, dài 09cm, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn; 01 khẩu trang y tế màu trắng, 01 mũ bảo hiểm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn X D, phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn X D phạm tội Cướp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày: 18-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Sơn;

Bà Bùi Thị Vân;

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Toà án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 31/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 06/12/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN X D, sinh năm 2002 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn A L 3, xã Th H, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Th; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý số 93/QĐ-UBND ngày 30/5/2024 của UBND xã Thanh Hải, thời hạn 01 năm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2024, ngày 30/9/2024 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1966 và bà Trịnh Hoài Th, sinh năm 1969; đều có địa chỉ: Khu s, th tr Th H, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. (Xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Trịnh Công B;

+ Anh Nguyễn Anh T;

+ Ông Cao Văn V;

+ Anh Bùi Văn X;

+ Anh Đặng Lâm V1;

+ Chị Nguyễn Thị Q;

+ Chị Nguyễn Thị H;

+ Anh Ngô Bá H1;

+ Anh Phạm D C;

+ Chị Nguyễn Thị Th;

Đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần có tiền để tiêu sài cá nhân. Khoảng 18 giờ ngày 22/9/2024, Nguyễn X D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS34B4- 716.91, đeo khẩu trang y tế màu trắng, đội mũ bảo hiểm loại nửa đầu, mang theo 01 dao dọc giấy, chuôi bằng nhựa màu hồng, dài 09cm, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn. Khoảng 18 giờ 10 phút, D đến cửa hàng vàng bạc 9999 K Th; địa chỉ: Thôn X A, xã Th Kh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương do ông Nguyễn Trung K, bà Trịnh Thị Hoài Th làm chủ. Khi đến D dựng xe máy dưới lòng đường trước cửa hàng vàng, sau đó đi vào trong cửa hàng gặp anh Trịnh Công B là nhân viên bán hàng. D cầm dao dọc giấy trong túi quần ra cầm trên tay phải, hướng dao về phía anh B đe doạ và nói “đưa tiền, vàng đây”, anh B sợ hãi. Ông K và anh Nguyễn Anh T đang ở trong nhà chạy ra, ông K vừa chạy vừa hô “cướp, cướp” và lao vào bắt giữ thì bị D vung dao vào vùng ngực phải và cẳng tay trái ông K gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 03%. D bị ông K, anh B, anh K bắt giữ.

Tại Kết luận giám định số 2910/KL-HĐĐGTS ngày 30/09/2024 của Phòng kỹ Thật hình sự- Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: 02 tập tin có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 133 MB được lưu trong USB nhãn hiệu TOSHIBA 4GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 355/KLTTCT ngày 02/10/2024 của trung tâm pháp y, sở y tế Hải Dương kết luận: Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Trung K tại thời điểm giám định là 03%.

Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSHD-TH ngày 30/10/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn X D về tội Cướp tài sản, theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn X D phạm tội Cướp tài sản. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Xử phạt từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 22/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về vật chứng: 01 con dao dọc giấy vỏ nhựa màu hồng, dài 09cm, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn; 01 khẩu trang y tế màu trắng đã qua sử dụng, 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu trắng, sọc cam, có kính trong suốt đã qua sử dụng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu huỷ. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về chứng cứ xác định bị cáo D có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 22/9/2024, tại cửa hàng vàng bạc 9999 K Th của ông Nguyễn Trung K và bà Trịnh Hoài Th; địa chỉ: Thôn X A, xã Th Kh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nguyễn X D cầm 01 con dao dọc giấy có lưỡi sắc nhọn, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc với anh Trịnh Công B là nhân viên bán hàng nhằm chiếm đoạt tài sản là tiền, vàng của ông K, bà Th, gây thương tích cho ông K, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% thì bị bắt giữ.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo sử dụng phương tiện nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của bị hại; gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Bị cáo là người nhân thân xấu. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải. Mặt khác bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, Th nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch Th một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng là 01 con dao dọc giấy vỏ nhựa màu hồng, dài 09cm, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn; 01 khẩu trang y tế màu trắng đã qua sử dụng, 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu trắng, sọc cam, có kính trong suốt đã qua sử dụng là công cụ và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Trung K, ông K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- 01 ghế gấp màu kẻ caro đen trắng, có lưng tựa nhãn hiệu X H và 01 ghế xoay nâng có mặt và lưng tựa màu đen, chân ghế hình tròn bằng kim loại màu trắng sáng đều đã qua sử dụng, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là phù hợp nên không đặt ra giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. đối với bị cáo Nguyễn X D.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn X D phạm tội Cướp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn X D 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dọc giấy vỏ nhựa màu hồng, dài 09cm, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn; 01 khẩu trang y tế màu trắng, 01 mũ bảo hiểm.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hơp lệ./.

Cỡ chữ