- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lý Văn B phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 19/6/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Hạnh
2. Bà Hoàng Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên
Ngày 19/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS, ngày 10/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với bị cáo:
Lý Văn B ; Sinh ngày: 08/4/1990; Tại: huyện B, tỉnh L; Nơi ĐKHKTT: bản M 2, xã M, huyện B, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lý Văn M, sinh năm: 1967 và bà: Bàn Thị T, sinh năm: 1967; Bị cáo có vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 19/02/2024, tạm giam ngày 28/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại gồm: 1/ Anh Nguyễn Hữu V - Sinh năm 1975, trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên (vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
2/ Anh Lò Văn H - Sinh năm 1996; trú tại bản P, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (Có mặt tại phiên tòa).
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Xuân Tr; sinh năm 1999; trú tại thôn H, xã X, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai (vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 07/02/2024, Lý Văn B đi xe khách từ thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đến huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu chơi. Sau đó, B đi bộ về hướng xã Mường Cang, huyện Than Uyên tìm xe mô tô để trộm cắp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực rừng trồng cây Mắc Ca thuộc bản P, xã M, huyện Than Uyên, B nhìn thấy có hai xe mô tô đang dựng tại lề đường bên trái, gần biển báo giao thông. Quan sát xung quanh không có ai, B tiến đến vị trí chiếc xe mô tô HONDA Wave α, màu trắng-đen-bạc, biển kiểm soát 25T1-172.35 (xe không khóa cổ). B lấy trong túi ra một chiếc chìa khóa xe máy cũ (mang theo từ trước), cắm vào ổ khóa để mở khóa xe. Một lúc sau, B mở được khóa xe và điều khiển xe đi theo đường nhánh nối Quốc lộ 279 với bản Lướt, xã Mường Kim, huyện Than Uyên. Sau đó, B tiếp tục điều khiển xe đi theo Quốc lộ 32 về thị trấn Than Uyên rồi đi đến thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Khoảng 09 giờ ngày 08/02/2024, Lý Văn B mang chiếc xe mô tô trộm cắp được đến cửa hàng sửa chữa và mua, bán xe máy cũ của anh Lê Xuân Tr (sinh năm 1999, tại thôn H, xã X, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai). Tại đây, B nói dối anh Trường muốn bán chiếc xe máy của mình nhưng giấy tờ xe đã bị mất. Anh Trường đồng ý mua chiếc xe với số tiền 700.000 đồng, B đã chi tiêu hết số tiền này.
Đến ngày 18/02/2024, Lý Văn B đi xe khách từ thành phố Lai Châu đến huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 15 giờ cùng ngày, B đến bến xe khách Than Uyên. Sau đó, B đi bộ theo Quốc lộ 32 về hướng xã Mường Cang, huyện Than Uyên để tìm xe máy trộm cắp. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến bản M1, xã M, huyện Than Uyên, B nhìn thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 25AA-025.24, vỏ màu nâu, có hai cánh yếm xe màu trắng dựng ở trước cửa nhà ông Nguyễn Hữu V (sinh năm 1975, trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên). B tiến đến gần chiếc xe và quan sát thấy không có ai ở nhà, chìa khóa vẫn cắm tại ổ khóa xe. B mở khóa xe và nổ máy, điều khiển xe đi theo hướng xã Mường Kim, huyện Than Uyên đến huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái để tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, B dừng xe tại bản Nả Dề Thàng, xã Khao Mang, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Tại đây, B mở cốp xe để kiểm tra nhưng không có tài sản gì. Để tránh mọi người phát hiện ra hành vi trộm cắp của mình, B đã dùng một chiếc đinh sắt trong cốp xe tháo phần số và chữ của biển số xe rồi vứt xuống suối ở bên. Thấy xe sắp hết xăng, B điều khiển xe quay lại xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, dừng xe ở một bãi đất trống thuộc bản Nà Dân, xã Mường Kim, huyện Than Uyên để đi tìm tài sản trộm cắp lấy tiền mua xăng để đi tiếp.
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 18/02/2024, Lý Văn B đi vào nhà anh Nguyễn Văn Ngân (sinh năm 1994; trú tại bản Nà Dân, xã Mường Kim, huyện Than Uyên) để tìm tài sản trộm cắp thì bị anh Ngân phát hiện và đưa đến Công an trình báo. Tại đây, Lý Văn B đầu thú về 02 lần trộm cắp xe mô tô đã thực hiện trước đó của mình.
Quá trình điều tra xác định: chiếc xe mô tô Lý Văn B chiếm đoạt ngày 07/02/2024 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình anh Lò Văn H (sinh năm 1996; trú tại bản P xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu). Chiếc xe mô tô Lý Văn B chiếm đoạt ngày 18/02/2024 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Hữu Anh (SN 2004, trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên). Anh Nguyễn Hữu Anh đi vắng nên gửi xe cho ông Nguyễn Hữu V (SN 1975; trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên – là bố của Nguyễn Hữu Anh) trực tiếp quản lý, sử dụng.
Tại kết luận định giá tài sản số 02 ngày 23/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Than Uyên kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu, biển kiểm soát 25AA-025.24 loại xe 50C6, dung tích xilanh 49,5 cm3 sản xuất năm 2019 (xe đã qua sử dụng) có trị giá là 4.470.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 03 ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Than Uyên kết luận: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 25T1-172.35 (xe đã qua sử dụng) có giá là 11.334.300 đồng.
Về vật chứng của vụ án gồm: thu giữ của Lý Văn B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu, có hai cánh yếm màu trắng, biển kiểm soát 25AA-025.24 (đã bị bung mất phần chữ và số) loại xe 50C6, dung tích xilanh 49,5 cm3 (xe đã qua sử dụng); 01 áo khoác màu đen, có mũ; 01 quần jean màu xanh, 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười (quần, áo và giày đều đã qua sử dụng).
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 25T1-172.35 (xe đã qua sử dụng) mà Lý Văn B chiếm đoạt của anh Lò Văn H mang đi bán cho Lê Xuân Tr. Sau đó, anh Trường đã bán lại chiếc xe này cho người không rõ lai lịch nên không thu hồi được. Đối với phần số và chữ của biển kiểm soát xe mô tô 25AA-025.24 mà Lý Văn B đã thoát vứt xuống suối ngày 18/02/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu, có hai cánh yếm màu trắng, biển kiểm soát 25AA-025.24 (đã bị bung mất phần chữ và số) loại xe 50C6, dung tích xilanh 49,5 cm3 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Hữu Anh (SN 2004, trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên) giao cho ông Nguyễn Hữu V (SN 1975 trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên – là bố của Nguyễn Hữu Anh) trực tiếp quản lý, sử dụng. Ngày 21/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Hữu V (người được anh Nguyễn Hữu Anh ủy quyền).
Vật chứng còn lại: 01 áo khoác màu đen, có mũ; 01 quần jean màu xanh; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười (quần, áo và giày đều đã qua sử dụng) thu giữ của Lý Văn B . Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Hữu V đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu bồi thường. Bị hại Lò Văn H yêu cầu Lý Văn B bồi thường số tiền bằng giá trị xe mô tô đã trộm cắp, chiếm đoạt.
Bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lý Văn B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự (BLHS) 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lý Văn B từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 – Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Hữu V đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu bồi thường không phải giải quyết.
Buộc bị cáo Lý Văn B phải có trách nhiệm bồi thường giá trị chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 25T1-172.35 (xe đã qua sử dụng) mà Lý Văn B chiếm đoạt của anh Lò Văn H với số tiền là 11.334.300 đồng.
Về vật chứng: khoản 1 Điều 47 – Bộ luật Hình sư; khoản 2 Điều 106 – Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, có mũ; 01 quần jean màu xanh; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười (quần, áo và giày đều đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không xin lại.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại không bổ sung ý kiến gì, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 07/02/2024 và ngày 18/02/2024, Lý Văn B đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Lần thứ nhất: khoảng 12 giờ ngày 07/02/2024, tại bản P, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Lý Văn B đã thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn, hiệu HONDA Wave Alpha, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 25T1-172.35 (xe đã qua sử dụng) có trị giá 11.334.300 đồng của anh Lò Văn Hoàng. Lần thứ hai: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Lý Văn B tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt 01 xe mô tô, nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu, biển kiểm soát 25AA-025.24, loại xe 50C6, dung tích xilanh 49,5 cm3 (xe đã qua sử dụng) có trị giá là 4.470.000 đồng của Nguyễn Hữu A.Tổng giá trị tài sản 02 lần Lý Văn B đã trộm cắp, chiếm đoạt là 15.804.300 đồng, mục đích bán xe trộm cắp lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hành vi mà bị cáo Lý Văn B thực hiện đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 – Bộ luật Hình sự, nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi này không những ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý tài sản của nhân dân. Bị cáo Lý Văn B với bản chất lười lao động, muốn có tiền để mua ma túy sử dụng, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu tài sản, đã cố ý thực hiện hành vi lén lút trộm cắp, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có ý thức hơn trong việc chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015.
Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều, khoản truy tố và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 – Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Bị cáo Lý Văn B chưa có tiền án, tiền sự, nhưng bản thân bị cáo lại mắc vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy, để có tiền mua ma túy để sử dụng thì bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một con người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Biện pháp ngăn chặn: cần áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Về vật chứng của vụ án gồm: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu sơn nâu, có hai cánh yếm màu trắng, biển kiểm soát 25AA-025.24 (đã bị bung mất phần chữ và số) loại xe 50C6, dung tích xilanh 49,5 cm3 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Hữu Anh (SN 2004, trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên) giao cho ông Nguyễn Hữu V (SN 1975 trú tại bản M1, xã M, huyện Than Uyên – là bố của Nguyễn Hữu Anh) trực tiếp quản lý, sử dụng. Ngày 21/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Hữu V (người được anh Nguyễn Hữu Anh ủy quyền), xét thấy việc trả lại tài sản nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
01 áo khoác màu đen, có mũ; 01 quần jean màu xanh; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười (quần, áo và giày đều đã qua sử dụng) thu giữ của Lý Văn B . Tại phiên tòa, bị cáo B không đề nghị trả lại do quần áo, giày đã cũ, xác định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự (TNDS): tại phiên tòa, anh Lò Văn H đề nghị bị cáo B bồi thường giá trị chiếc xe đã chiếm đoạt số tiền là 11.334.300 đồng cho anh Lò Văn H là chủ sở hữu. Bị cáo B nhất trí, xét thấy việc đề nghị là có cơ sở nên chấp nhận.
Do bị hại Nguyễn Hữu V không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với Lê Xuân Tr (sinh năm 1999; trú tại thôn H, xã X, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) là người đã mua chiếc xe mô tô do Lý Văn B trộm cắp. Quá trình điều tra xác định: khi mua xe, anh Trường không biết chiếc xe do B trộm cắp được mà có, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Lê Xuân Tr về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
Quá trình điều tra, Lý Văn B khai nhận cả hai lần trộm cắp tài sản vào các ngày 07/02/2024 và 18/02/2024, B có bàn bạc với một người đàn ông (tự giới thiệu với B tên là Sinh, sinh năm 1997, nhà ở huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu) là người làm thuê cùng với B ở thành phố Lào Cai. Sau khi trộm cắp xe mô tô vào ngày 07/02/2024, B đã cùng với Sinh mang chiếc xe mô tô trộm cắp được đến thành phố Lào Cai để bán và cùng chi tiêu số tiền do bán xe mà có. Bản thân B không biết rõ nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.
Quá trình điều tra còn xác định Lý Văn B đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thành phố Lào Cai, Công an huyện Than Uyên đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với hành vi của bị cáo Lý Văn B đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn Ngân (sinh năm 1994 trú tại bản Nà Dân, xã Mường Kim, huyện Than Uyên) để tìm tài sản trộm cắp nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản gì thì đã bị phát hiện, ngăn chặn. Hành vi này của Lý Văn B chưa nhằm đến loại tài sản cụ thể nào để chiếm đoạt nên chưa có cơ sở để đánh giá mức độ phạm tội của Lý Văn B làm căn cứ xác định B có hay không có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lý Văn B là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Lý Văn B phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố bị cáo: Lý Văn B phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lý Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 19/02/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46, khoản 1 Điều 48 – Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357; Điều 468 – Bộ luật dân sự 2015.
Buộc bị cáo Lý Văn B phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lò Văn Hoàng, Sinh năm: 1996, trú tại: bản P, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu số tiền 11.334.300 đồng (Mười một triệu ba trăm ba mươi tư nghìn ba trăm đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải trả lãiđối với số tiền chậm trả theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, có mũ; 01 quần jean màu xanh; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười (quần, áo và giày đều đã qua sử dụng) thu giữ của Lý Văn B .
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/5/2024 giữa Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên).
4. Về án phí: Bị cáo Lý Văn B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 566.715 đồng (Năm trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm mười lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo đối với những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định lên Toà án nhân dân cấp trên để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKS huyện Than Uyên (2b); - THA dân sự H. Than Uyên; - CQĐT huyện Than Uyên; - CQ THAHS H. Than Uyên; - Nhà tạm giữ CAH. Than Uyên - Bị hại; Người có QLNVLQ; - THA PT; - Bị cáo; - Sở Tư pháp Lào Cai; - UBND xã M (để biết); - Lưu HS – TA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Thị Luyến Lê Thị Hạnh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đinh Xuân Thủy Nguyễn Lệ Thủy | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Mỹ Hằng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Mỹ Hằng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Mỹ Hằng THÀNH VIÊN THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Trƣờng Trần Thị Oanh Lƣơng Thị Mỹ Hằng |