- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày: 23-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Binh;
2. Ông Lưu Trọng Kim.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Chí Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn L, sinh năm: 1984, tại thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: không có nơi đăng ký thường trú; nơi cư trú trước khi bị bắt: khu phố 2, phường Trảng Dài, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 00/12; con ông Nguyễn Văn Của (đã chết) và con bà Bùi Thị Thanh Đức, sinh năm 1958, trú tại khu phố 2, phường Trảng Dài, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; Gia đình có 02 anh em, Lê Văn L là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 16/4/2024, Lê Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/8/2024.
Bị cáo bị bắt ngày 24/10/2024 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 208/2024/HSST-LCCT ngày 14/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Đức Linh. (có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Ông Từ Tấn P, sinh năm 1993; nơi cư trú: đường số 5, thôn 2, xã Dh, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Thanh Đ, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ 20, khu phố 2, phường Trảng Dài, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/11/2023, ông Từ Tấn P điều khiển xe mô tô biển số 76B1-738.53 đến tạp hóa của bà Lê Thị Huyến thuộc số nhà 42, đường Nguyễn Văn Trỗi, khu phố 9, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh để bán hàng. Khi đến nơi, ông P để balo màu đen, bên trong balo có 01 laptop hiệu Dell màu bạc, màn hình 14 inch có cấu hình: CPU 12th Gen Intel (R) core (TM) i5 - 1245U 1.6Ghz, Ram 16Gb, ổ cứng SSD 512 GB ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu hồng; 01 bộ tai nghe hiệu JBL màu đen và 300.000 đồng tiền mặt trên xe mô tô của mình rồi đi vào trong tạp hóa bà Huyến để chào bán các sản phẩm. Khoảng 20 phút sau, ông P đi ra thì P hiện balo có chứa những tài sản trên đã bị mất trộm. Đến ngày 03/12/2023, ông P đến Công an thị trấn Đức Tài để trình báo sự việc. Quá trình xác minh đã xác định Lê Văn L là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Từ Tấn P.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 07 giờ ngày 29/11/2023, Lê Văn L điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu xanh bạc, biển số 60F4 – 398.91 của mẹ L là bà Bùi Thị Thanh Đức, đi từ huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đến địa bàn huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận để tìm kiếm xem ai có sự sơ hở trong việc quản lý tài sản thì sẽ trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn L điều khiển xe mô tô biển số 60F4 – 398.91 đi vào trong chợ Đức Tài thuộc thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận thì P hiện 01 balo để trên baga xe mô tô biển số 76B1 – 738.53 của ông Từ Tấn P dựng trước tiệm tạp hóa của bà Lê Thị Huyến, không có người trông coi. Lúc này L nảy sinh ý định trộm cắp balo trên nên tiếp cận rồi lấy trộm chiếc balo, để lên xe của mình rồi chạy về hướng huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Trên đường đi, Lê Văn L ghé vào 01 vườn cao su bên đường mở balo ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 laptop hiệu Dell màu bạc, 01 điện thoại iphone 6 màu hồng, 01 bộ tai nghe bluetooth hiệu JBL màu đen và số tiền 300.000 đồng. L lấy 300.000 đồng bỏ vào túi quần, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm nơi tiêu thụ số tài sản vừa trộm cắp được. Lê Văn L đi dọc theo tuyến huyện Tánh Linh, thị xã La Gi về huyện Hàm Tân và ghé một vài cửa hàng điện thoại để bán laptop, diện thoại, tai nghe vừa trộm cắp được nhưng không ai mua. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L ghé vào 01 tiệm điện thoại di động (không xác định được địa chỉ cụ thể) ở khu vực huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và bán những tài sản vừa trộm cắp nêu trên được 1.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Lê Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận: 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu Dell, màu bạc, màn hình 14 inch có cấu hình: CPU 12th Gen Intel (R) core (TM) i5 - 1245U 1.6Ghz, Ram 16Gb, ổ cứng SSD 512 GB có giá trị 5.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu hồng có giá 600.000 đồng; 01 bộ tai nghe hiệu JBL màu đen có giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 6.600.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 93/CT-VKS-HS, ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi lén lút trộm cắp 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu Dell, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu hồng, 01 bộ tai nghe hiệu JBL màu đen của Từ Tấn P đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo không kêu oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Lê Văn L; đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo L và đề nghị xử phạt bị cáo L mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Về xử lý vật chứng, về dân sự: Không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo đã biết sai, bị cáo xin lỗi mẹ, xin lỗi Hội đồng xét xử, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và lo cho mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với trích xuất dữ liệu viedeo trong camera, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/11/2023, tại cửa hàng tạp hóa của bà Lê Thị Huyến thuộc số nhà 42, đường Nguyễn Văn Trỗi, khu phố 9, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, Lê Văn L đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp của ông Từ Tấn P 01 balo bên trong có 01 laptop hiệu Dell màu bạc, màn hình 14 inch có cấu hình: CPU 12th Gen Intel (R) core (TM) i5 - 1245U 1.6Ghz, Ram 16Gb, ổ cứng SSD 512 GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu hồng; 01 bộ tai nghe hiệu JBL màu đen và 300.000 đồng tiền mặt đang để trên baga xe mô tô biển số 76B1-738.53 của Từ Tấn P.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận: 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu Dell, màu bạc, màn hình 14 inch có cấu hình: CPU 12th Gen Intel (R) core (TM) i5 - 1245U 1.6Ghz, Ram 16Gb, ổ cứng SSD 512 GB có giá trị 5.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu hồng có giá 600.000 đồng; 01 bộ tai nghe hiệu JBL màu đen có giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 6.600.000 đồng.
Như vậy, hành vi do bị cáo Lê Văn L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Văn L về tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là thanh niên có sức khỏe để tự lao động tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình; tuy nhiên, vì bản tính tham lam, bị cáo đã cố ý thực hiện đến cùng hành vi trộm cắp tài sản của người khác, đây là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản của mình, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bức xúc trong dư luận (do hành vi của bị cáo thực hiện giữa ban ngày tại khu vực chợ đông dân cư); do đó cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra cũng như nhân thân của bị cáo, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện; đồng thời, nhằm đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo (đơn đề ngày 8/7/2024 được chứng thực tại Văn phòng Công chứng Đức Linh), bị cáo không có trình độ văn hóa nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; do dó, Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét nghề nghiệp của bị cáo không ổn định, gia cảnh của bị cáo khó khăn, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Việc bồi thường thiệt hại: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại về tài sản và trong quá trình điều tra cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường; do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về vật chứng vụ án: 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu Dell, màu bạc, màn hình 14 inch có cấu hình: CPU 12th Gen Intel (R) core (TM) i5 - 1245U 1.6Ghz, Ram 16Gb, ổ cứng SSD 512 GB; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu hồng; 01 bộ tai nghe hiệu JBL màu đen hiện không thu hồi được. 01 xe mô tô Honda Wave, màu xanh bạc, biển số 60F4 – 398.91 là tài sản của bà Bùi Thị Thanh Đức, bà Đức không có lỗi trong việc để Lê Văn L điều khiển xe mô tô trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mặt khác xe mô tô trên đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong bản án này.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với những nhận nêu trên nên được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1/ Về tội danh: Tuyên bố Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Lê Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để tạm giam (24/10/2024).
2/ Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn L phải nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo bản này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Đức Linh; - Công an huyện Đức Linh; - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Đức Linh; (khi án có hiệu lực) - Chi cục THADS huyện Đức Linh; - Nhà tạm giữ CA huyện Đức Linh; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - UBND P.Trảng Dài, Tp.BH; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; THAHS; tập án văn./ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Mai Thuận |