vanban.org

Bản án 84/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích .

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù; th i hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y 25/11/2024. Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao d i 32 cm; 01 viên gạch, kích thước (17 x 7 x 7,5) cm v 01 mảnh vỡ m u đen kích thước (24,4 x 13) cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 25/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Toản cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ng y 1 tháng 12 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Rót Tha, ông Sa Vu Thy.

Thư ký phiên toà: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký To án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà: B Bùi Thị Thái Hòa - Kiểm sát viên

Ng y 1 tháng 12 năm 2024, tại tr s T a án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa v án ra xét xử sơ thẩm số: 8 /2024/QĐXXST- HS ng y 04 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ng y: 12/3/1 76; tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thư ng trú v ch : Khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: L m thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tứ Ân H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (chết) v b Phạm Thị T2 (chết); vợ: Huỳnh Thị H, có 02 con lớn sinh năm: 200 , nhỏ sinh năm: 2013. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam t ng y 25/11/2024 đến nay (có m t).

Những người tham gia tố tụng:

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Cẩm S – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nh nước tỉnh A.

Bị hại: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1 85; địa chỉ cư trú: Tổ C, ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1 73; địa chỉ cư trú: Ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

2. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm: 1 82; địa chỉ cư trú: Khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

Người làm chứng: Huỳnh Văn C, Ngô Văn H1, Huỳnh Văn Đ1.

(Tại phiên tòa có mặt các ông bà S, những người còn lại vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ v án v diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 gi ng y 28/3/2024, trong lúc uống bia tại trước nh của ông Phạm Văn D, ng ấp R, xã C, huyện T cùng với Huỳnh Văn C (thầu xây nh ), Nguyễn Văn Đ2, Ngô Văn H1 (bạn l m hồ) thì T cự cãi với Đ2 về việc l m hồ xong m không vệ sinh thùng nhựa. Trong lúc cãi nhau, Đ2 có l i lẽ thách thức “dám chém không” và khom đầu về phía T, tức giận T dùng tay phải ch p lấy 01 cây dao bằng kim loại d i 32 cm (cán d i 12 cm, lưỡi d i 20 cm) tại móng nh của D chém 02 nhát t trên xuống v o vùng đầu v má trái của Đ2 gây thương tích, thì được C và H1 can ngăn, T cầm dao bỏ chạy trốn, c n Đ2 sau khi bị chém, Đ2 cầm 01 viên gạch ống đập nhiều cái v o xe mô tô 67F7 - 0660 của T đang dựng phía sau nh của ông D gây hư hỏng nhiều bộ phận trên xe, rồi được mọi ngư i đưa đi Trung tâm Y tế huyện T điều trị, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ3, đến ng y 2 /3/2024 ra viện v trình báo Công an xã C.

Vật chứng thu giữ: 01 cây dao d i 32 cm (cán dao bằng kim loại m u đen d i 12 cm, lưỡi dao kim loại m u trắng d i 20 cm); 01 viên gạch (loại gạch ống, m u cam) kích thước (17 x 7 x 7,5) cm, trọng lượng 01 kg; 01 mảnh vỡ m u đen kích thước (24,4 x 13) cm; 01 xe mô tô biển số 67F7 - 0660, hiệu GUIDA, m u đen, số máy 307221, số khung 113103. (xe đã giao trả cho bị can T)

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên ngư i sống số 305/24/KLTTCT-TTPY ng y 10/5/2024 của Trung tâm Pháp y S Y tế tỉnh A, ghi nhận: Sẹo đính thái dương trái nằm xiên kích thước (07 x 0,2) cm, l sẹo kích thước trung bình tỷ lệ 02%. Gây mẻ bản sọ ngo i xương sọ vùng đính trái, điều trị bảo tồn tỷ lệ 07 %. Tỷ lệ l 0 %. Do vật sắc gây nên; Sẹo t thái dương trái đến má - cạnh h m trái, nằm xiên kích thước (11 x 0,1) cm, l sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ 06 %. Do vật sắc gây nên. Kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Minh Đ là 14 %.

Tại Kết luận định giá t i sản số 23/KL-HDĐG.TTHS ng y 02/5/2024 của Hội đồng định giá t i sản trong tố t ng hình sự huyện T. Kết luận xe mô tô 67F7 - 0660, hiệu GUIDA, loại Dream m u đen, bị hư hỏng: Ốp nhựa thân xe bên phải giá 500.000 đồng; Ốp nhựa đèn chiếu sáng phía trước giá 0.000 đồng; Gác chân sau bên trái giá 50.000 đồng; Nắp ch p buri giá 30.000 đồng. Tổng giá trị 670.000 đồng.

Vế trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Minh Đ đã nhận tiền do bị cáo bồi thư ng 3.000.000 đồng v không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 81/CT-VKSTT- HS ng y 20 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Minh T3 về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra v phiên t a bị cáo T3 khai nhận h nh vi phạm tội như nội dung cáo trạng.

Những ngư i liên quan, ngư i l m chứng vắng m t tại phiên t a nhưng quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với to n bộ nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố.

Căn cứ v o tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự v nhân thân của ngư i phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp 2 d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng, đề nghị áp d ng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự v Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự. Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao d i 32 cm; 01 viên gạch, kích thước (17 x 7 x 7,5) cm v 01 mảnh vỡ m u đen kích thước (24,4 x 13) cm.

Về trách nhiện dân sự, các bên đã thỏa thuận bồi thư ng xong, không yêu cầu gì khác, nên không đề cập xem xét giải quyết.

Quan điểm ngư i b o chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh, khung hình phạt cũng như các tình tiết giảm nhẹ m Kiểm sát viên đã đề nghị áp d ng đối với bị cáo, nhưng đề nghị HĐXX có xem xét thêm đến nhân thân của bị cáo l chấp h nh tốt chủ trương, chính sách pháp luật tại địa phương, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính nuôi 02 con nhỏ, đã bồi thư ng cho bị hại tổng cộng 7.000.000 động, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên đề nghị HĐXX áp d ng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất như Kiểm sát viên đề nghị.

Đối đáp của Kiểm sát viên không đối đáp, giữ nguyên quan điểm.

L i nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, HĐXX nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng:

- Đối với h nh vi, quyết định tố t ng của Điều tra viên v Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên t a, bị cáo v những ngư i tham gia tố t ng khác không có ý kiến ho c khiếu nại gì về h nh vi, quyết định của ngư i tiến h nh tố t ng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố t ng của Điều tra viên v Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên t a, ngư i có quyền lợi ngh a v liên quan: Phạm Văn D, Nguyễn Thị Thu V, những ngư i l m chứng: Huỳnh Văn C, Ngô Văn H1, Huỳnh Văn Đ1 vắng m t, m c dù T a án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng m t của họ không gây tr ngại gì đến việc xét xử của v án. Căn cứ các Điều 2 2, 2 3 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015, HĐXX tiến h nh xét xử v án theo thủ t c chung.

Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên t a bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. L i khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên t a phù hợp với nhau, phù hợp l i khai của ngư i có quyền lợi ngh a v liên quan, ngư i l m chứng về th i gian, địa điểm, thủ đoạn, m c đích, động cơ phạm tội v hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các t i liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ v án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15 gi ng y 28/3/2024, trong lúc uống bia tại trước nh của ông Phạm Văn D, thì bị cáo có cải nhau với Đ; Đề có l i lẽ thách thức thì bị cáo tức giận dùng dao chém v o vùng đầu v má trái của Đ gây thương tích, rồi bỏ trốn. 3

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự v nhân thân của ngư i phạm tội, HĐXX nhận thấy:

Bị cáo T l ngư i có vợ, con; lẽ ra, bị cáo cần bình t nh tìm cách xử lý thích hợp để tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra, nhưng bị cáo không l m được điều đó m chỉ tức th i nghe l i thách thức của anh Đ thì bị cáo lập tức dùng dao gây thương tích cho cho anh Đ không chỉ 01 nhát m cả 02 nhát v o đầu v má phải của anh Đ với tổng tỷ lệ thương tật l 14%. Bị cáo l ngư i có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện r bản tính hung hăn, xem thư ng pháp luật, thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội: Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù t 02 năm đến 06 năm (tội phạm nghiêm trọng), như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

H nh vi phạm tội của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh Đ m c n ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an to n xã hội tại địa phương. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp h nh hình phạt tù cách ly khỏi xã hội l cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a để buộc bị cáo phải chấp h nh hình phạt tù có th i hạn một th i gian mới có tác d ng giáo d c cải tạo bị cáo tr th nh công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên, mức hình phạt tù có th i hạn m đại diện Viện kiểm sát đề nghị l chưa tương xứng với tính chất mức độ phạm tội m bị cáo đã gây ra, đề nghị n y HĐXX có căn nhắc khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên to bị cáo đã th nh khẩn khai báo, trong th i gian tạm giam bị cáo không vi phạm n o khác, chứng tỏ các bị cáo có ăn năn hối cải; bị cáo có con nhỏ l lao động chính trong gia đình, bị cáo bồi thư ng thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .. Đó l các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.

Đối với quan điểm của ngư i b o chữa cho bị cáo, đề nghị HĐXX áp d ng Điều 54 Bộ luật Hình sự v xử phạt bị cáo mức thấp nhất của Kiểm sát viên đề nghị là 01 năm tù chưa đủ sức răn đe, nên HĐXX không chấp nhận.

Đối với Nguyễn Minh Đ có h nh vi cầm viên gạch ống đập gây hư hỏng các bộ phận trên xe mô tô 67F7-0660 (tổng giá trị 670.000 đồng) của bị cáo T, giá trị t i sản bị thiệt hại chưa đủ định lượng, Đề chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan điều tra không kh i tố l có căn cứ.

. Về vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên l có căn cứ v phù hợp pháp luật, b i: 01 cây dao d i 32 cm; 01 viên gạch, kích thước (17 x 7 x 7,5) cm v 01 mảnh vỡ m u đen kích thước (24,4 x 13) cm l vật dủng v o việc phạm tội v không có giá trị sử d ng, nên tịch thu tiêu hủy.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại không yêu cầu gì khác, nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự v điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 4 số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30-12-2016 của Ủy ban Thư ng v Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý v sử d ng án phí v lệ phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích .

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù; th i hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y 25/11/2024.

Căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao d i 32 cm; 01 viên gạch, kích thước (17 x 7 x 7,5) cm v 01 mảnh vỡ m u đen kích thước (24,4 x 13) cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ng y 25/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi C c Thi h nh án dân sự huyện Tri Tôn).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng v Quốc hội về án phí, lệ phí T a án.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo v các đương sự có quyền l m đơn kháng cáo trong th i hạn 15 ng y kể t ng y tuyên án (1 /12/2024), đương sự vắng m t tại phiên t a ho c không có m t khi tuyên án m có lý do chính đáng thì th i hạn kháng cáo tính t ng y nhận được bản án ho c được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ