- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Quyến
Ông Nguyễn Thế Tự
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2024, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST-HNGD ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, thực hiện lễ cưới theo phong tục tập quán và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang năm 2012. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng dần về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do hai người không còn hợp nhau và không còn tiếng nói chung trong thời gian dài làm cho hôn nhân không hạnh phúc. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Cẩm N xin ly hôn với anh Nguyễn Văn L; Về con chung, trong thời kì hôn nhân có ba con chung gồm Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 29/5/2012 (giới tính nam); Nguyễn Phương N1, sinh ngày 29/7/2014 (giới tính nữ) và Nguyễn Văn N2, sinh ngày 17/5/2019 (giới tính nam). Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Văn L được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày trong vụ án.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Khi mâu thuẫn xảy ra không thể hàn gắn được nên chị N xin ly hôn với anh L, để tạo điều kiện cho cả hai hàn gắn hôn nhân, Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành, chị N vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh L. Chị N xác định không còn tình cảm với anh L và không mong muốn hàn gắn hôn nhân. Trong khi, anh L được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh L cũng không mong muốn gặp gỡ chị N để hàn gắn hôn nhân cũng như không còn quan tâm lẫn nhau. Trong khi đó, hôn nhân được xây dựng trên tình thương yêu, quan tâm, chia sẽ lẫn nhau nhưng cả hai không có. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh L mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm N với anh Nguyễn Văn L được chấp nhận.
Về con chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 29/5/2012 (giới tính nam); Nguyễn Phương N1, sinh ngày 29/7/2014 (giới tính nữ) và Nguyễn Văn N2, sinh ngày 17/5/2019 (giới tính nam) và bị đơn anh Nguyễn Văn L không có văn bản nêu ý kiến về con chung. Trong khi đó, các cháu K và N1 có văn bản trình bày được sống chung với chị N. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Bên cạnh, trong thời gian xảy ra mâu thuẫn đến nay chị N là người trực tiếp nuôi các con chung và anh L không thể hiện được trách nhiệm làm cha đối với các con chung và không có chứng cứ thể hiện chị N vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung. Đối với cháu N2 chưa đủ tuổi để ghi nhận ý kiến có nguyện vọng sống chung với ai nhưng cháu đang được chị N nuôi dưỡng. Để giữ môi trường sống ổn định cho các con chung cũng như đã phân tích nêu trên. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị N có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung, đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144 và Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Áp dụng Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội khoá 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 29/5/2012 (giới tính nam); Nguyễn Phương N1, sinh ngày 29/7/2014 (giới tính nữ) và Nguyễn Văn N2, sinh ngày 17/5/2019 (giới tính nam) đến khi trưởng thành, anh Nguyễn Văn L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung, do chị N chưa yêu cầu.
Danh quyền trông nom, chăm sóc con chung cho anh Nguyễn Văn L, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006547 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp thành án phí.
5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Phụng Hiệp; - Chi cục THADS huyện Phụng Hiệp; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân nơi thực hiện đăng ký kết hôn; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hiếu |