vanban.org

Bản án 84/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2023. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢICHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:84/2023/HSST
Ngày: 25 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Khắc Tường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Tùng

2. Ông Nguyễn Văn Sanh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị kim Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu – 344A Lê Thanh Nghị, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2023/HSST ngày 26.6.2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Họ và tên: Phạm Đức T. Sinh ngày: 21/4/2003, tại: thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký HKTT: Tổ 05, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: 65 P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Cha: Phạm Phi L (sinh năm: 1983, sống), mẹ: Nguyễn Thị Kim C (sinh năm: 1983, sống). Bị can là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18 ngày 24/02/2019 của Công an phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản;

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 377 ngày 09/5/2019 của Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản;

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 602 ngày 07/8/2019 của Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác;

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 119 ngày 15/8/2019 của Công an phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đóng phạt xong vào ngày 16/10/2019);

- Bản án số 70/2020/HSST ngày 25/6/2020 của TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS (chấp hành án xong ngày 03/02/2021);

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/4/2023.

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị A – sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1959 (vắng mặt).

Nơi cư trú: đường M, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h30’ ngày 31/01/2023, Phạm Đức T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 29M5-3062 của bà Nguyễn Thị H đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước nhà đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, thấy nhà không khoá cửa cổng, T đã lẻn vào nhà và phát hiện tại sân nhà có dựng 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43C1-530.75 của chị Nguyễn Thị A có gắn sẵn chìa khoá trên xe. T về nhà cất xe mô tô Dream rồi đi bộ trở lại nhà chị A để lấy trộm xe mô tô Airblade nêu trên mang về nhà cất giấu.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Phạm Đức T:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển số 43C1-530.75, số khung 4611EZ729850, số máy JF46E7529875;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu trắng đen, biển số 29M5-3062, số khung 01531119, số máy 01531119;

+ 01 áo phao màu đen không có nhãn hiệu;

+ 01 quần lửng màu đen có nhãn ghi chữ “Super Duper”;

- Chị Nguyễn Thị A giao nộp: 01 đĩa CD bên trong có chứa đoạn video được trích từ camera phòng khách nhà đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, ghi nhận hình ảnh Phạm Đức T trộm cắp tài sản ngày 31/01/2023.

Theo Kết luận định giá tài sản số 22 ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận Hải Châu kết luận: Xe mô tô biển số 43C1-530.75 nêu trên có trị giá 27.230.000 đồng .

Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội "Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

+ Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD bên trong có chứa đoạn video được trích từ camera phòng khách đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, ghi nhận hình ảnh Phạm Đức T trộm cắp tài sản ngày 31/01/2023.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 áo phao màu đen không có nhãn hiệu và 01 quần lửng màu đen có nhãn ghi chữ “Super Duper”.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 22h30’ ngày 31/01/2023, tại nhà đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Phạm Đức T đã lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị A một xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43C1-530.75 trị giá 27.230.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện thấy rằng hành vi này không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội này của bị cáo.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Đức T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Phạm Đức T trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý hành chính cũng như như bị Tòa án kết án về tội xâm phạm sở hữu tài sản nhưng vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, không ăn năn hối cải. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo và người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không ai có yêu cầu bối thường gì thêm nên không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng các vật chứng thu giữ trong vụ án như nêu trên đã đươc Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng với quy định tại khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các vật chứng là 01 đĩa CD bên trong có chứa đoạn video được trích từ camera phòng khách nhà đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, ghi nhận hình ảnh Phạm Đức T trộm cắp tài sản ngày 31/01/2023 cần được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án. Riêng đối với vật chứng là 01 áo phao màu đen không có nhãn hiệu và 01 quần lửng màu đen có nhãn ghi chữ “Super Duper”. Đây là tài sản của Phạm Đức T, không liên quan đến tội phạm, tuy nhiên đã hết giá trị sử dụng nên cần áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2023.

2. Về xử lý vâ ̣t chứ ng:

- Áp dụng điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự;

Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 áo phao màu đen không có nhãn hiệu và 01 quần lửng màu đen có nhãn ghi chữ “Super Duper”.

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quâ ̣n Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 6 năm 2023.

3. Về án phí:

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phạm Đức T phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ