- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 170 Bộ luật hìn…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HSST Ngày 13/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG – TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Quốc Doanh
+ Ông Tạ Minh Tiếp
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13/7/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/HSST ngày 23/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 16/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/HSST-QĐ ngày 29/6/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1993 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nơi ĐKHKTT, nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1969; con bà: Đặng Thị T1, sinh năm: 1968; Gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2. Vợ: Phùng Thị L, sinh năm 1999. Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 08/02/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Công ty Cổ phần T7.
Địa chỉ: Số F ngõ B Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu H1. Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Viết X, sinh năm: 1985
Trú tại: PB1012, chung cư T, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Công ty TNHH X1.
Địa chỉ: Số A ngách E K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đồng Văn T2. Chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Trần L1, sinh năm: 1970
Trú tại: Thôn P, xã P, quận G, thành phố Hà Nội.
- Công ty TNHH X1
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Anh D. Chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá Hồng T3, sinh năm: 1988
Trú tại: Thôn X, xã N, huyện B, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Trại Giam H4, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Anh Phạm Văn T4, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Trại giam X2 Bộ C1, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Anh Phạm Hồng C, sinh năm: 2002.
Địa chỉ: Trại giam X2 Bộ C1, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Tại phiên tòa vắng mặt: Đại diện các bị hại ông X, ông L1, ông T3; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh N, anh T4, anh C đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dự án khu đô thị S tại xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên bắt đầu triển khai thi công, san lấp mặt bằng và làm cơ sở hạ tầng từ tháng 12 năm 2021. Quá trình thực hiện, có một số doanh nghiệp đã mang các máy móc, thiết bị đến khu dự án để thi công và thường để lại qua đêm để ngày hôm sau làm việc tiếp. Việc quản lý các máy móc và trang thiết bị ở công trường đều do các doanh nghiệp tự trông coi. Đầu tháng 01 năm 2022, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn N đều sinh năm 1993 và cùng trú tại thôn A, xã N, huyện V nhà ở gần công trường khu đô thị thấy các doanh nghiệp có nhu cầu trông coi máy móc, thiết bị để qua đêm tại công trường, nên đã rủ nhau đi gặp đại diện các doanh nghiệp để nhận trông thuê máy móc, thiết bị. N và H đã nhận trông một số máy robot ép cọc, máy cẩu của một số doanh nghiệp gồm: Công ty cổ phần B, Công ty cổ phần X3, Công ty N4 và bê tông đúc sẵn lắp ghép Phan Vũ . Ngày 12/01/2022, thông qua bạn bè giới thiệu, thì Phạm Văn N1, sinh năm 1984, ở xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng và Phạm Văn T4, sinh năm 1988, ở xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng đến cùng trông máy với N, H và ở trọ tại nhà của H (gọi chung là: nhóm của N). Ngày 15/01/2022, Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 (gọi tắt là Công ty X1) có địa chỉ ở số F, ngõ B, phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội và Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 (gọi tắt là Công ty X1) có địa chỉ ở tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng đưa các máy robot ép cọc đến công trường nói trên để làm việc tại khu C mà nhóm của N đang nhận trông máy cho một số công ty khác. Thấy vậy, N đã đến đặt vấn đề trông thuê máy với giá từ 4.500.000đồng – 5.000.000 đồng/1 máy/1 tháng, nhưng 02 Công ty X1 và Minh Đ đều không đồng ý.
Khoảng 15 giờ ngày 15/01/2022 tại phòng trọ của N1 ở nhà H, các đối tượng: N, N1, H, T4 đã bàn bạc với nhau về việc 2 Công ty X1 và Minh Đ không thuê trông máy, nên phải đi phá máy của các Công ty này để họ sợ mà phải thuê nhóm của N trông máy. N, T4 đồng ý đi thực hiện, H nói: “phải phá chúng nó để anh em mình trông” rồi bảo: “anh em cứ đi đi, có ít máy có gì anh ra sau”. Sau khi nghe H nói vậy thì N và T4 đồng ý thực hiện. Khoảng 00 giờ ngày 16/01/2022, N và T4 đi bộ ra khu vực để máy robot ép cọc của Công ty X1. N dùng điện thoại Iphone XS max của mình bật đèn Flash để soi thì phát hiện dưới gầm máy robot có để 02 máy hàn khí Co2, màu vàng, kích thước (60x30x50) cm. Do vậy T4 đã đứng ở ngoài cảnh giới để N chui vào gầm máy robot, dùng 02 tay bê lần lượt 02 máy hàn khí Co2 lên qua đầu, rồi đập mạnh vào bệ máy robot bằng kim loại, làm hư hỏng 02 máy hàn khí Co2 (01 máy bị hỏng cuộn dây hàn và trục chính của rùa hàn, còn 01 máy bị hỏng cuộn dây hàn). Sau đó, N và T4 đi tiếp sang máy robot ép cọc của Công ty X1 gần đó, N chui vào gầm máy phát hiện thấy 02 cuộn dây hàn MIG còn khoảng 50% đang được nối với máy nên N đã dùng tay bẻ lấy 02 cuộn dây hàn; T4 cầm 01 cuộn và N cầm 01 cuộn mang đi chôn giấu ở dưới bãi cát. Đến 07 giờ sáng cùng ngày, anh Nguyễn Hoàng T5 và anh Vũ Duy N2 là nhân viên kỹ thuật của 2 Công ty X1 phát hiện máy móc bị phá hỏng, nên đã báo lại ông Đặng Trần L1 là người quản lý máy móc tại công trường của Công ty X1 và ông Nguyễn Bá Hồng T3 là chỉ huy trưởng tại công trường của Công ty X1 để họ thông báo lại cho các công ty biết. Ông Nguyễn Bá Hồng T3 là chỉ huy trưởng công trình, đồng thời đại diện Công ty X1 thấy trước đó có nhóm của N đã đặt vấn đề trông máy, nhưng vì giá cao nên không đồng ý; nay lại thấy máy móc bị phá hỏng như trên, nghi ngờ là nhóm của N thực hiện. Vì vậy ngày 17/01/2022, ông T3 đã buộc phải đồng ý thuê nhóm của N trông 07 máy ép cọc và 01 máy cẩu với giá 5.000.000 đồng/1 máy/1 tháng, trả tiền cuối tháng (có viết một số biên bản kiểm kê máy móc thiết bị cụ thể).
Ngày 19/01/2022, Công ty Cổ phần T7 (gọi tắt là Công ty T7) có địa chỉ ở số F, ngõ B, phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội (là nhà thầu phụ của Công ty X3, do ông Nguyễn Hữu H2 là chỉ huy trưởng công trình và là đại diện công ty X3 trước đó đã thuê nhóm của N trông một số máy robot ép cọc) đưa thêm máy cẩu 29LA-1311 đến công trường để làm việc. Thấy vậy, N đã liên hệ với anh H2 bảo thuê trông máy cẩu nói trên, nhưng anh H2 nói: “Bên em đã thuê trông các máy robot rồi, máy này nhỏ, anh em tiện thì trông giúp”. N không đồng ý và thông báo lại cho N1 biết. Trên cơ sở ngày 15/01/2022 N1, H, N, T4 đã bàn bạc và thống nhất, N1 chỉ đạo N đi mua sơn về xịt hết kính của chiếc máy cẩu. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/01/2022, N điều khiển xe mô tô Yamaha Jupiter, biển số 30H9-5316 của bố (là ông Nguyễn Văn Q) đi đến cửa hàng của ông Quản Văn M, sinh năm 1975, ở thôn P, xã N, huyện V mua 01 bình sơn màu đỏ, dạng xịt, thể tích 300ml với giá 60.000 đồng mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N đi bộ một mình ra khu để máy cẩu của Công ty T7, trèo lên máy cẩu 29LA-1311, dùng bình sơn nói trên xịt kín sơn màu đỏ toàn bộ kính trước và hai bên buồng lái rồi vứt vỏ bình xịt sơn đi.
Ngày 21/01/2022, N1 rủ Phạm Hồng C, sinh năm 2002 ở cùng xã với N1 lên trông coi máy móc. Do 2 Công ty X1 và Minh A vẫn chưa thuê nhóm của N trông máy cũng như không đồng ý với giá trông mấy ngày tết là 20.000.000 đồng/1 máy/10 ngày (từ 26 tháng chạp đến mùng 06 tháng giêng âm lịch). Khoảng 17 giờ ngày 21/01/2022, tại nhà ở của N, các đối tượng N1, H, N, T4 tiếp tục bàn bạc về việc sẽ tiếp tục xịt sơn và phá hỏng một số máy móc của các doanh nghiệp. Ninh phân công N tiếp tục xịt sơn và mua kìm cộng lực về để cùng T4 đi cắt phá dây điện, máy móc. N và T4 đồng ý, H cùng đồng ý và nói: “có ít máy, anh em cứ đi đi, anh đang cách ly covid, có gì anh ra sau”. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, theo sự phân công và chỉ đạo của N1, N đi xe máy biển số 30H9-5316 đến quán của ông M mua 01 bình sơn màu đen, dạng xịt, thể tích 300ml và 01 chiếc kìm cộng lực dài khoảng 60cm, có 02 lưỡi bằng kim loại sắc bẹt, mũi nhọn. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/01/2022 như đã bàn bạc cùng H từ trước thì N1, C, T4 đi đến nhà N để cùng ra công trường và đến chỗ để máy Robot ép cọc của Công ty X1. N1 đứng ở phía bên ngoài, T4 và C đứng cách máy khoảng 3m để trông coi, N trèo lên bệ máy dùng kìm cộng lực cắt một đầu của đoạn dây điện 3 pha màu đen, nhãn hiệu Myota 4x70, đường kính 7,5cm, có 4 sợi lõi nhôm đường kính 1,3cm, được quấn lại với nhau và nối với tủ điện rồi trèo xuống cắt đầu dây còn lại được nối với máy hàn. Sau đó, T4 đến giữ dây cho N cắt đoạn dây điện nguồn 3 pha dài 20m. C, N kéo dây điện vừa cắt được ra chỗ N1 đứng gần 01 mương nước; N1 bảo C và N ném dây điện xuống mương nước nhưng dây điện vẫn nổi, nên N1 bảo N mang đoạn dây trên về cắt nhỏ ra và giấu đi để tránh bị phát hiện. N kéo đoạn dây điện về nhà của mình rồi dùng kìm cộng lực cắt thành nhiều đoạn nhỏ cho vào bao tải, giấu ở chuồng lợn. Đến 22 giờ cùng ngày, N, T4 và C tiếp tục đi xịt vào máy cẩu 29LA-1311. T4 và C đứng cảnh giới để N trèo lên xịt sơn màu đen vào toàn bộ kính chắn gió phía trước, kính 02 bên buồng lái, 02 gương chiếu hậu và biển số máy cẩu. Sau đó tất cả đi về nhà N, trên đường đi đã vứt vỏ bình sơn (không nhớ vị trí cụ thể). Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, N1 rủ H đi đến nhà N để hỏi việc xịt sơn, cắt dây điện như thế nào thì N, T4, C đã nói với H và N1 là đã thực hiện xong.
Ngày 26/01/2022, đại diện các Công ty X1, Thanh H3 và Minh A đã có đơn trình báo với Công an huyện V. CQCSĐT Công an huyện V đã tiến hành xác minh, khám xét khẩn cấp nơi ở của N thu giữ: 23 đoạn dây điện hình tròn, màu đen, đều có đường kính 1,3cm, vỏ bọc ngoài bằng nhựa màu đen, bên trong có 4 lõi bằng kim loại, kích thước từ 69cm đến 1,28m, tổng chiều dài các đoạn là 20m và 01 chiếc điện thoại Iphone XS max của N. Khám xét khẩn cấp nơi ở trọ của N1 và T4 thu giữ: 01 chiếc điện thoại Iphone 6s pluss, 05 biên bản bàn giao máy móc.
Ngày 27/01/2022 và ngày 05/6/2022, CQCSĐT Công an huyện V yêu cầu định giá tài sản để xác định thiệt hại. Ngày 06/02/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 máy hàn khí Co2 bị hư hỏng 01 cuộn dây hàn và trục chính của rùa hàn, thiệt hại 1.800.000 đồng; 01 máy hàn khí Co2 bị hư hỏng 01 cuộn dây hàn thiệt hại 1.000.000 đồng; 01 đoạn dây điện 3 pha màu đen nhãn hiệu Myota 4x70 có 4 sợi lõi nhôm đường kính dây điện 7,5cm dài 20m, trị giá 1.400.000 đồng. Ngày 09/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 02 cuộn dây hàn MIG còn lại 50% dây có trị giá 400.000 đồng.
Ngày 09/6/2022, CQCSĐT Công an huyện V đã gửi 05 biên bản kiểm kê máy móc thiết bị với Công ty X1 (được thu giữ tại nơi ở của N1 và T4) có chữ ký và ghi họ tên Phạm Văn N1 (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5) đi giám định để so sánh với chữ ký, chữ viết của N1 tại các biên bản ghi lời khai, bản tự khai của N1 trong vụ án Đánh bạc mà Cơ quan điều tra Công an huyện T, thành phố Hải Phòng đang khởi tố điều tra (ký hiệu M1, M2, M3). Ngày 13/6/2022, Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chữ ký, chữ viết Phạm Văn N1 dưới mục Đại diện bộ phận an ninh trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4 so với chữ ký của Phạm Văn N1 trên các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra; còn chữ ký, chữ viết Phạm Văn N1 trên mẫu A5 không phải do cùng một người viết ra.
Công ty T7 bị xịt sơn vào máy thì công nhân tự lau rửa, khắc phục được, nên xác định không bị hư hỏng. Công ty X1 và Công ty X1 xác định thiệt hại có giá trị không lớn. Các Công ty nói trên đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Ngay sau khi sự việc xảy ra thì Nguyễn Văn H và Phạm Văn N1 bỏ trốn nên CQCSĐT Công an huyện V đã ra quyết định truy nã. Ngày 31/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang đã xét xử và kết án Phạm Văn N3, Nguyễn Văn T6 về tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 170 BLHS và Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 BLHS; xét xử và kết án Phạm Hồng C về tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 BLHS, xử lý toàn bộ các vật chứng có liên quan đến vụ án.
Ngày 05/02/2023, Nguyễn Văn H ra đầu thú tại CQCSĐT Công an huyện V và thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 69/CT-VKSVG ngày 22/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
- Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang phát biểu bản Luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND huyện Văn Giang đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng:
Khoản 1 điều 178; điểm a, đ khoản 2 Điều 170; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo H từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung về hai tội từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/02/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, VKSND huyện Văn Giang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng tại phiên toà: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đề nghị xét xử vắng mặt các đại diện bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra các đại diện bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai và việc vắng mặt của những người này tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Vì vậy, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với lời khai của chính bị cáo tại quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập như: Đơn trình báo, lời khai của các bị hại; lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Biên bản giao nhận tài liệu đồ vật, Kết luận định giá tài sản và các vật chứng của vụ án đã được thu giữ. Do đó Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ để kết luận: Vào các ngày 16, 19 và 23/01/2022, tại công trường thực hiện dự án Khu đô thị S thuộc xã N, huyện V. Nguyễn Văn H cùng với Phạm Văn N1, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T4 đã đề nghị các Công ty X1, Minh Đ và Minh A thuê trông coi máy móc vào ban đêm với giá 5.000.000 đồng/1 máy/1 tháng và 20.000.000 đồng/1 máy/10 ngày nghỉ tết, nhưng không được chấp thuận. H đã cùng N1, N và T4 bàn bạc, phân công nhau, sau đó rủ thêm C phá hỏng một số máy, với mục đích là buộc các Công ty phải thuê nhóm của N trông máy lấy tiền. N1 đã khởi xướng, phân công nhiệm vụ cho từng người, H là người giúp sức, N và T4 phá hỏng 02 chiếc máy hàn khí Co2 của Công ty X1 gây thiệt hại 2.800.000 đồng; C, T4 và N cắt nhỏ 20m dây điện 3 pha của Công ty X1; xịt sơn lên kính cabin lái, gương chiếu hậu và biển số xe cẩu 29LA-1311 của Công ty T7 gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, ngay sau đó vụ án đã bị phát hiện.
Bị cáo H cùng N1, T4, N khi thực hiện hành vi phạm tội có sự cấu kết chặt chẽ, có sự bàn bạc, phân công công việc, dùng thủ đoạn trộm cắp tài sản và làm hư hỏng tài sản của các công ty X1, Minh A, Minh Đ để uy hiếp làm các công ty lo sợ phải đưa tiền cho nhóm bị cáo. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại khu vực công trường nói riêng và an toàn xã hội nói chung. Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” với tình tiết “có tổ chức” và “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự. Hành vi của N1, H, N, T4 ngày 16/01/2022 đập phá 02 máy hàn khí CO2 của công ty X1 gây thiệt hại với tổng giá trị là 2.800.000đ thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng thủ đoạn trộm cắp tài sản và làm hư hỏng tài sản của các công ty để uy hiếp tinh thần, làm cho các công ty lo sợ để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật. Nhưng vì lười lao động, lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử nghiêm minh và quyết định mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
. Về vai trò của các bị cáo khi thực hiện tội phạm:
Trong vụ án này bị cáo đã đồng phạm có tổ chức cùng các đối tượng khác thực hiện tội phạm. Đối tượng N1 là người chủ mưu, cầm đầu, các đối tượng N, T4, nghe theo sự phân công, chỉ đạo của N1 là người thực hành trực tiếp tích cực thực hiện tội phạm, sau khi N, T4 đồng ý đi thực hiện tội phạm, bị cáo H có lời nói hứa hẹn sẽ ra giúp sức cho N và T4 khi có trở ngại để cho N, T4 đi thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng, cho thấy vai trò của H là thứ yếu giúp sức về tinh thần, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào vai trò của bị cáo khi thực hiện tội phạm để quyết định hình phạt cho phù hợp.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo ba lần cùng N1, N, T4, C thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản để uy hiếp các bị hại nhằm cưỡng đoạt tài sản, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hành vi cưỡng đoạt tài sản của bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, hành vi của bị cáo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản gây thiệt hại không lớn, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản h, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với cả hai tội. Bị cáo có ông được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, tự giác ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
. Về hình phạt:
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Hành vi của bị cáo cùng các đối tượng khác bàn bạc, lập kế hoạch, phân công nhau nhiều lần đi phá hoại tài sản của các công ty để ép họ phải thuê trông máy, đã gây hoang mang, lo sợ, bất bình cho các nhà thầu, đã làm ảnh hưởng đến việc đầu tư, thi công dự án của địa phương nói riêng, của tỉnh Hưng Yên nói chung. Bị cáo còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lao động chân chính nhiều lần cố ý thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, khó giáo dục cải tạo; nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung. Đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”, bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo phạm tội lần đầu là người giúp sức nhưng có vai trò không đáng kể, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Do bị cáo phạm nhiều tội nên HĐXX sẽ tổng hợp hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo trước khi bị bắt không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề đối với bị cáo.
Đối với hành vi bị cáo tham gia bàn bạc cùng các đối tượng khác xịt sơn vào xe cẩu, lấy 20m dây điện thiệt hại 1.400.000 đồng và cắt lấy 02 cuộn dây hàn MIG thiệt hại 400.000 đồng HĐXX kiến nghị Công an huyện V xử phạt hành chính đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
* Trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.
* Xử lý vật chứng: Đã giải quyết tại Bản án số 62/2022/HSST ngày 31/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Căn cứ:
- Điểm a, đ khoản 2 điều 170; khoản 1 Điều 178; điểm h-s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án.
3. Hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/02/2023.
4. Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND huyện Văn Giang; - Công an huyện Văn Giang; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Văn Giang; - UBND xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Vũ Thu Giang |