- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HS-ST. Ngày 18 - 8 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Nguyễn Thị Chương.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - Là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Đặng Công Đ, sinh năm 2002; nơi sinh: Tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Ngô Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1972 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: Thôn T, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn Lực, sinh năm 1989 - Luật sư cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Bị hại: Chị Lại Thùy L, sinh năm 2000; trú tại: Xóm 2, xã LC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Đặng Văn H, sinh năm 1972; trú tại: Thôn T, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; có mặt.
2/ Ngô Thị M, sinh năm 1979; trú tại: Thôn T, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người phiên dịch cho người câm, điếc:
1/ Ông Đỗ Hoàng Thái Anh, sinh năm 1985; trú tại: P201-B21 TT Nam Thành Công, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; có mặt.
2/ Bà Trần Hồng Vân, sinh năm 1995; trú tại: 37-H7, tổ 13B, phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 02/11/2022, sau khi đi lễ nhà thờ, Đặng Công Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng, biển kiểm soát 90D1-165.84 đi từ nhà đến thành phố Phủ Lý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô đi đến đường Trường Chinh theo hướng từ đường Biên Hòa đi hướng đường Trần Thị Phúc, thành phố Phủ Lý. Khi đi đến gần cổng công viên Nguyễn Khuyến thuộc tổ 9, phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý, Đ nhìn thấy chị Lại Thùy L điều khiển xe máy điện đi phía trước cùng chiều với xe mô tô của Đ đang đi, trên tay trái của chị L đang cầm chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu đen, gắn ốp nhựa màu xanh lá cây thì Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Đ điều khiển xe mô tô đi áp sát bên trái xe máy điện của chị L, dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại IPHONE 11 promax rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy theo hướng về đường Trần Thị Phúc, thành phố Phủ Lý đi về nhà. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chị Lại Thùy L đi về nhà lấy máy điện thoại di động của anh Lại Văn Chiến (chồng chị L) để nhắn tin đến số điện thoại 0886526261 lắp trong chiếc điện thoại IPHONE 11 promax của chị L nhằm xin chuộc chiếc điện thoại. Đ nhắn tin yêu cầu chị L chuyển cho Đ 2.500.000đ vào số tài khoản do Đ cung cấp. Sau đó, chị L đến trụ sở Công an phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý trình báo sự việc và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu giữ của Đặng Công Đ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, biển kiểm soát 90D1-165.84, màu sơn trắng - bạc; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9, màu đen, bên trong lắp 01 sim nhà mạng Viettel số thuê bao 0334213275 (cũ đã qua sử dụng); 01 chiếc quần dài vải bò, màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, sọc màu đen xám; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu hồng đậm; 01 khẩu trang y tế màu xanh nước biển và 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao, màu xám.
- Tạm giữ của bà Ngô Thị M: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu đen, dung lượng 64GB, bên trong máy lắp sim nhà mạng Vinaphone, 01 ốp điện thoại IPHONE 11 promax bằng nhựa màu xanh lá cây (cũ đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu vàng, máy không lắp sim.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 97/2022 ngày 25 tháng 11 năm 2022, Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu đen, dung lượng 64GB, bên trong máy lắp sim nhà mạng Vinaphone đã qua sử dụng giá 10.200.000 đồng; 01 ốp điện thoại IPHONE 11 promax bằng nhựa màu xanh lá cây đã qua sử dụng giá 20.000 đồng. Tổng cộng 10.220.000 (Mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng chẵn).
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 74/KLGĐ ngày 13/4/2023, Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/11/2022 và tại thời điểm giám định đối tượng Đặng Công Đ bị bệnh chậm phát triển tâm thần khác. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F78. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Từ nội dung trên, bản cáo trạng số 81/CT-VKS-PL ngày 08 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Đặng Công Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng d khoản 2 Điều 171; điểm p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Công Đ 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, về tội “Cướp giật tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Đặng Công Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu vàng; 01 chiếc quần dài vải bò, màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, sọc màu đen xám; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu hồng đậm; 01 khẩu trang y tế màu xanh nước biển và 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao, màu xám, nhãn hiệu “NIKE ZOOM”.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện tương tự như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì. Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, cũng như quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh, điều kiện của bị cáo là người câm điếc bẩm sinh, không được học hành, không biết chữ…để tuyên bị cáo mức án thấp nhất có thể.
Người đại diện theo pháp luật đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đặng Văn H và chị Ngô Thị M trình bày: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, biển kiểm soát 90D1-165.84 là tài sản của vợ chồng anh chị để ở nhà, Đ lấy sử dụng anh chị không biết, nay Cơ quan Công an đã trả lại xe gia đình không có ý kiến gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng này đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Đánh giá về tội danh: Đối chiếu với biểu cảm thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với biểu cảm thừa nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ án cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 02/11/2022, tại đường Trường Chinh thuộc tổ 9, phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý, Đặng Công Đ lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Lại Thùy L, nên đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng, biển kiểm soát 90D1- 165.84 áp sát phía bên trái xe máy điện do chị L điều khiển đang đi cùng chiều và giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu đen, dung lượng 64GB, trị giá 10.200.000 đồng có gắn ốp bằng nhựa trị giá 20.000 đồng rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về nhà cất giấu. Tổng trị giá tài sản mà Đ chiếm đoạt được của chị Lại Thùy L là 10.220.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Đặng Công Đ đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người khuyết tật nặng bị câm điếc bẩm sinh. Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công với cánh mạng được hưởng trợ cấp thương tật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm q, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.
Đánh giá về hình phạt:
* Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Công Đ là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra một bản án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt.
Cân nhắc tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú, có lý lịch rõ ràng, do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, biết ăn năn hối cải.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lại Thùy L không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, BKS: 90D1-165.84, màu sơn trắng - bạc là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Đặng Văn H và chị Ngô Thị M (bố mẹ đẻ). Anh H, chị M không biết Đ sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả cho anh H đại diện nhận lại chiếc xe trên là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu đen, dung lượng 64GB, bên trong máy lắp sim nhà mạng Vinaphone, 01 ốp điện thoại IPHONE 11 promax bằng nhựa màu xanh lá cây là tài sản hợp pháp của chị Lại Thùy L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại cho chị L là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu vàng; 01 chiếc quần dài vải bò, màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, sọc màu đen xám; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu hồng đậm; 01 khẩu trang y tế màu xanh nước biển và 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao, màu xám là tài sản hợp pháp của Đặng Công Đ không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Đ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên bố: Bị cáo Đặng Công Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
[3] Xử phạt bị cáo Đặng Công Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/8/2023).
Giao bị cáo Đặng Công Đ cho Ủy ban nhân dân xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam là nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Đặng Công Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9, màu đen, bên trong lắp 01 sim nhà mạng Viettel số thuê bao 0334213275 (cũ đã qua sử dụng), được đựng trong phong bì ký hiệu “ĐT1”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, màu vàng, máy không lắp sim, được đựng trong phong bì ký hiệu “ĐT2”; 01 chiếc quần dài vải bò, màu đen, cạp quần gắn tem “MVSJEANS”; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, sọc màu đen xám, phía trong cổ gắn chữ “BURBERRY”; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu hồng đậm, chất liệu nhựa, trên mũ có chữ “HELLO KITTY”; 01 khẩu trang y tế màu xanh nước biển và 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao, màu xám, nhãn hiệu “NIKE ZOOM”.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 12/7/2023.
[5] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Công Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an TP Phủ Lý; - Cơ quan THAHS CA TP Phủ Lý; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Phủ Lý; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyên |