- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Hải - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 84/2023/HS-ST Ngày 15 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Chiến, ông Sùng A Dờ
- Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2023/TLST - HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 12/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2023/HSST – QĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh H – Sinh năm 1986 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Quế Tr A, xã Đồng Qu, huyện Sông L, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện tại: khu phố 3, thị trấn Sìn H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H – sinh năm 1958; Con bà: Lê Thị Ng – sinh năm 1964. Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Lê Thị Thu Ng - sinh năm 1989, bị cáo có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: Không. Tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 23/4/2023 đến ngày 02/5/2023 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Đến ngày 02/6/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người bị hại: ông Vàng Văn B, Sinh năm 1973 – Có mặt.
Địa chỉ: khu phố 3 thị trấn Sìn H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tẩn Tày M, sinh năm 1993 – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố 5 thị trấn Sìn H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.
- Ông Hà Văn M – sinh năm 1984 –Vắng mặt
Nơi ở: Tổ 14 phường Tân Ph, thành phố Lai Ch, tỉnh Lai Châu.
Nơi đăng ký hộ khẩu: Khu 10, Đồng T, xã Phương Kh, huyện Sông L, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Thanh H đang làm thuê tại một công trình xây dựng tại khu phố 3, thị trấn Sìn Hồ do anh Hà Văn M, sinh năm 1984 quản lý. Khoảng 15 giờ ngày 23/4/2023, Hải một mình ở trong lán nghỉ của công trình, biết anh Vàng Văn B, sinh năm 1973 (cùng là công nhân của công trình) để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen trong túi dứa, treo trong lán nghỉ của công trình nên Hải nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại, Hải đi đến vị trí treo túi dứa đựng đồ của anh Bích, tay phải kéo khóa túi, móc tay vào bên trong, lấy trộm được chiếc điện thoại Samsung A13 màu đen. Hải cầm điện thoại trên tay, đi ra chỗ xe mô tô BKS 28S7-2649 của công trình, mở cốp xe, cất giấu chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào trong rồi điều khiển xe đi đến quán điện thoại “Mìn Mobile” ở khu phố 5, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ và bán chiếc điện thoại trên cho chủ quán là anh Tẩn Tày Mìn với giá 1.600.000 đồng. Số tiền bán điện thoại có được, Hải đi mua xăng và mua đồ ăn hết 300.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 23/4/2023, Hải quay lại quán điện thoại của anh Mìn, mua 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi 6 giá 830.000 đồng để sử dụng, rồi quay về công trình. Về đến nơi, biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện, Trần Thanh Hải đã đến Công an thị trấn Sìn Hồ đầu thú, giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi 6 và số tiền bán điện thoại còn lại là 420.000 đồng. Kết luận định giá tài sản số 07 ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sìn Hồ kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A13 màu đen, mua vào tháng 01/2023, tại thời điểm tháng 4/2023 có giá trị là 3.330.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen: quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Vàng Văn Bích. Ngày 23/5/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại điện thoại trên cho anh Vàng Văn Bích. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 6 màu vàng trắng; 01 Giấy phép lái xe, 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thanh Hải; 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Ngọc; 01 đăng ký xe mang tên Phạm Thế Chung; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô xe máy; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, BKS 28S7-2649: Hiện được bảo quản tại Kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ. Số tiền 420.000 đồng: hiện được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Sìn Hồ. 01 đĩa DVD lưu 03 tập tin video hình ảnh camera tại quán Tẩn Tày M: chuyển theo hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 54/CT - VKSSH ngày 14/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Trần Thanh H ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn khấu trừ thu nhập và giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú để quản lý, giám sát giáo dục. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 6 màu vàng trắng, số tiền 420.000 đồng;
Trả lại cho bị cáo Trần Thanh H: 01 Giấy phép lái xe, 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thanh H; 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Ng; 01 đăng ký xe mang tên Phạm Thế Ch; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô xe máy;
Trả lại cho ông Hà Văn M: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, BKS 28S7-2649: Hiện được bảo quản tại Kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Vàng Văn B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tẩn Tày M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận, đối đáp gì.
Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn kính đề nghị xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo lao động tốt để chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 15 giờ ngày 23/4/2023, tại lán công trình xây dựng do anh Hà Văn M quản lý tại khu phố 3, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Trần Thanh H đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen, trị giá 3.330.000 đồng của anh Vàng Văn B, sinh năm 1973, trú tại bản Cốc P, xã Bản G, huyện Tam Đ với mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến công, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, tuy nhiên bị cáo nhất thời phạm tội, có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương như cũng đủ niềm tin để bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Về khấu trừ thu nhập đối với bị cáo xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, công việc và thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tháng cải tạo không giam giữ là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề Lao động tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 6 màu vàng trắng, số tiền 420.000 đồng;
Trả lại cho bị cáo Trần Thanh H: 01 Giấy phép lái xe, 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thanh Hải; 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Ng; 01 đăng ký xe mang tên Phạm Thế Ch; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô xe máy;
Trả lại cho ông Hà Văn M: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, BKS 28S7-2649 đối với nguồn gốc chiếc xe áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự về xem xét nguồn gốc chiếc xe tách ra khi các bên có yêu cầu.
Về các vấn đề liên quan:
Kết quả điều tra xác định, khi mua lại điện thoại Samsung A13 của Trần Thanh H vào ngày 23/4/2023, H không nói và anh Tẩn Tày M không biết là tài sản do trộm cắp mà có, do đó, Tẩn Tày M không phạm tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 BLHS.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 28S7-2649: Quá trình điều tra xác định xe trên do anh Hà Văn M quản lý. Quá trình bị cáo sử dụng xe trên để mang điện thoại trộm cắp được đi bán, anh M không biết, nên không phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Được khấu trừ 41 ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến ngày 02/6/2023 (được quy đổi thành 04 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ) bị cáo còn phải chấp hành 13 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Giao bị cáo Trần Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Thanh Hải có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 6 màu vàng trắng, số tiền 420.000 đồng;
Trả lại cho bị cáo Trần Thanh H: 01 Giấy phép lái xe, 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thanh H; 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Ng; 01 đăng ký xe mang tên Phạm Thế Chung; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô xe máy; Trả lại cho ông Hà Văn Mạnh: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, BKS 28S7-2649 (Áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự về xem xét nguồn gốc chiếc xe khi các bên có yêu cầu). (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 8 giờ 45 phút ngày 24/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - Chi Cục THADS huyện Sìn Hồ; - Công an huyện Sìn Hồ (CSĐT); - Công an huyện Sìn Hồ (CQ THAHS); - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - UBND xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phú;tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |