- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn P - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HS-ST Ngày: 25-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Hoàng Văn Tiến
2. Bà: Mùa Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2023/ TLST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn P; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản XT 1, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lò Văn P (đã chết) và con bà Tòng Thị H, sinh năm 1943; Gia đình bị cáo có 09 anh chị em ruột bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Bị cáo chung sống với nhau như vợ chồng với chị Quàng Thị H, sinh năm 1982 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất 2006 ; Tiền sự; Tiền án: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính; Chưa bị xét xử. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 12/3/2023 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Họ và tên: Lường Văn C, sinh năm 1976, cư trú tại: Bản XT 2, xã BL, huyện M, tỉnh Điện Biên (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 11/3/2023 Lò Văn P từ nhà đi bộ ra chợ BL, xã BL, huyện MA mua đồ. Sau khi mua đồ trên đường về đến bản XT 2, xã BL, huyện M Lò Văn P gặp Lường Văn C, sinh năm 1976 đang đứng ngoài cổng nhà. Qua trao đổi, Lò Văn P hỏi mua được của Lường Văn C 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh và 08 viên Methamphetamine với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Lò Văn P mang về nhà cho 08 viên Methamphetamine vào 01 lọ nhựa màu xanh có nắp màu vàng và dùng dao lam cắt chia cục Heroine thành 09 gói nhỏ gói lại bằng các mảnh nilon màu xanh, cất giấu Heroine, Methamphetamine tại túi quần bên phải đang mặc để sử dụng. Đến khoảng 07 giờ ngày 12/3/2023, Lò Văn P lấy 01 gói Heroine và 02 viên Methamphetamine ra sử dụng hết. Đến 11 giờ cùng ngày 12/3/2023, khi Lò Văn P đang ở nhà tổ công tác Công an xã Búng Lao vào nhà kiểm tra, giải thích Lò Văn P có ma tuý giao nộp, Lò Văn P lấy tại túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp 08 gói Heroine được gói bằng các mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,32 gam và 06 viên Methamphetamine có khối lượng 0,62 gam, tổng hai chất ma tuý là 0,94 gam.
Cùng ngày 12/3/2023 Cơ quan điều tra ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với Lường Văn C, sinh năm 1976, trú tại bản XT 2, xã BL, huyện M. Qua khám xét thu giữ dưới đệm ngủ của Lường Văn C 01 túi nilon màu xanh bên trong có 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,09 gam và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,1 gam không chứa chất ma tuý. Lường Văn C khai nhận 01 viên Methamphetamine và 01 viên nén màu xanh thu giữ là của Lường Văn C mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên tuổi vào khoảng 10 giờ ngày 12/3/2023, tại khu vực cầu bản B, xã BL với giá 50.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lường Văn C không thừa nhận bán ma tuý cho Lò Văn P.
* Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 12/3/2023 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 486/KL-KTHS, ngày 19 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn P gồm: 0,32 gam chất bột màu trắng; 0,62 gam các viên nén màu hồng.
- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn P gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
- Mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn P gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.
* Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 12/3/2023 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 485/KL-KTHS, ngày 19 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn C gồm: 0,09 gam viên nén màu hồng; 0,1 gam viên nén màu xanh.
- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lường Văn C gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.
- Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu viên nén màu xanh thu giữ của Lường Văn C gửi giám định.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSMA ngày 26/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn P. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xử phạt Lò Văn P từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 0,26 gam Heroine và 0,51 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 lọ nhựa màu xanh có nắp màu vàng.
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lò Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nội dung vụ án:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Lò Văn P đã khai và công nhận: Hồi 11 giờ ngày 12/3/2023 tại bản XT 1, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên bị cáo bị bắt vì đang tàng trữ trái phép 0,32 gam Heroine và 0,62 gam Methamphetamine, mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 54/CT-VKS-MA, ngày 26/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 0,32 gam Heroine và 0,62 gam Methamphetamine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…c) Heroine…,Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam;
i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma tuý đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
[2] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
[3] Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 3/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình, năm 1997 chung sống như vợ chồng với chị Quàng Thị H và có 03 người con. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo vẫn cố ý mua và tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi tổ công tác phát hiện bị cáo đã tự giác lấy ma túy ra để giao nộp, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 cho bị cáo. Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng nào qui định tại Điều 52 BLHS.
Bị cáo với nghề nghiệp làm nông nghiệp, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lường Văn C tàng trữ trái phép 0,09 gam Methamphetamine mục đích sử dụng. Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Bị cáo Lò Văn P khai Lường Văn C là người đã bán ma tuý cho Lò Văn P, Cơ quan CSĐT thực hiện lấy lấy lời khai, đối chất, Lường Văn C không thừa nhận hành vi bán ma tuý cho Lò Văn P. Hiện chưa đủ tài liệu, chứng cứ để xử lý Lường Văn C.
. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểma, c khoản 2Điều 106BLTTHS. Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 0,26 gam Heroine và 0,51 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 01mảnh nilon màu xanh, 01 lọ nhựa màu xanh có nắp màu vàng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[10] Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 3 năm 2023.
2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểma, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.Tịch thu để tiêu hủy 0,26 gam Heroine và 51 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 lọ nhựa màu xanh có nắp màu vàng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 26/6/2023).
3. Án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS:
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/7/2023).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yếttheo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên - VKSND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên. - VKSND h.Mường Ảng - Công an h.Mường Ảng - Chi cục THADS h.Mường Ảng - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Phương |