vanban.org

Bản án 84/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Võ Thị T được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khánh D, sinh ngày 27/7/2017 cho nguyên đơn chị Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Dành quyền cho anh Nguyễn Văn L được chăm sóc, nuôi dưỡng, thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Võ Thị T với bị đơn anh Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Võ Thị T được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 18 - 8 - 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Thái.

Ông Võ Văn Thỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 137/2023/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2023/QĐST-DS ngày 04/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1999.(vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú H, xã Định M, huyện T, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên hệ: Đường 41, ấp B, xã Khánh B, huyện T, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm Tân T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 14/4/2023 nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày:

Giữa chị và anh Nguyễn Văn L có tổ chức đám cưới và hai bên tự nguyện đi đăng ký kết hôn với nhau. Đến ngày 03/5/2017 được Ủy ban nhân dân phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu hai người sinh sống với nhau rất hạnh phúc và có 01 đứa con chung tên Nguyễn Khánh D, sinh ngày 27/7/2017, hiện con sống chung với chị. Nhưng thời gian sau thì giữa hai người thường phát sinh mâu thuẫn và cự cải do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hai người đã nhiều lần hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thể hàn gắn và đã ly thân với từ năm 2021 đến nay. Nay nhận thấy không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn L nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Khánh D, sinh ngày 27/7/2017, không yêu cầu anh Ly cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, cấp dưỡng vợ chồng sau ly hôn: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, phía anh Ly không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn có địa chỉ cư trú: Khóm Tân T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, HĐXX căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Theo nguyên đơn trình bày thì cả hai đều tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/5/2017. Lời trình bày của nguyên đơn là phù hợp với tài liệu nguyên đơn cung cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/5/2017 (BL 03) nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn trình bày do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện giữa hai người đã ly thân với nhau từ năm 2021. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, do cuộc sống của vợ chồng của nguyên đơn và bị đơn thường xuyên phát sinh mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Theo nguyên đơn thì hai người chung sống với nhau có 01 người con chung tên Nguyễn Khánh D, sinh ngày 27/7/2017. Nguyên đơn có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện con chung đang sống ổn định cùng với nguyên đơn. Ngoài ra, từ khi thụ lý đến phiên tòa xét xử sơ thẩm bị đơn không có ý kiến hay nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Căn cứ theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền cho bị đơn được chăm sóc, nuôi dưỡng, thăm nom con chung mà không ai được cản trở bị đơn thực hiện quyền này.

. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Võ Thị T được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khánh D, sinh ngày 27/7/2017 cho nguyên đơn chị Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi.

Dành quyền cho anh Nguyễn Văn L được chăm sóc, nuôi dưỡng, thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Nguyên đơn chị Võ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009293, ngày 13/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ