vanban.org

Bản án 84/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn C. Chị T được ly hôn với anh C.

Về con chung: giao 02 cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10-6-2007 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20-10-2015 cho chị Võ Thị Kim T được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Kim T "ly hôn" Võ Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn C. Chị T được ly hôn với anh C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-9-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vương Văn Mum

2. Bà Lê Thị Diễm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Võ Thị Kim T, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1980; địa chỉ: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (cả hai có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và Bản tự khai đề ngày 26-10-2023 và trong quá trình làm việc nguyên đơn chị Võ Thị Kim T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C tự nguyện tổ chức lễ cưới với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày cưới bên chồng cho 01 đôi bông tai, 01 chiếc lắc, 01 sợi dây chuyền, tất cả là 08 chỉ vàng 24k và cặp nhẫn cưới vàng 18k, số vàng này vợ chồng bán chi phí nuôi con hết. Cưới xong vợ chồng sống chung bên chồng tại A, A, T, chị đi làm công nhân, còn anh C không đi làm. Vợ chồng sống đến năm 2020 xảy mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C không đi làm kiếm thêm thu nhập để chi phí cho gia đình, mà anh thường xuyên rượu chè, cờ bạc bỏ đi suốt ngày, khi về nhà thì la lối chửi mắn, chị khuyên nhiều lần anh hứa nhưng không thay đổi, cuộc sống không hạnh phúc, đến giữa năm 2020 chị và anh C có lời qua tiếng lại cãi vã, dằn co với nhau, nên chị dẫn con bỏ về nhà cha mẹ ruột tại ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ở đi làm công nhân sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2020. Do cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, nên chị xin ly hôn với anh C.

- Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10-6-2007 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20-10-2015, hiện chị đang nuôi.

- Về tài sản chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết. Căn nhà anh C đang ở là tài sản riêng của anh C có trước khi cưới chị, chị không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết. Ngày 19-8-2023 chị có đơn xin giải quyết vắng mặt. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28-8-2023 bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày: anh và chị Võ Thị Kim T tự nguyện tổ chức lễ cưới với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện C. Cưới xong vợ về sống chung nhà riêng của anh tại A, A, T, Tây Ninh. Vợ chồng sống đến năm 2020 do vợ cờ bạc thiếu nợ, nên anh phải bán nhà trả nợ cho vợ xong, sau đó dịch bệnh vợ bỏ nhà đi về bên cha mẹ vợ ở, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021. Thời gian này vợ chồng có gặp nhau nhưng không bàn việc đoàn tụ lại. Nay vợ xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: có 02 con tên chung là Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10-6-2007 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20-10-2015, hiện vợ anh đang nuôi, anh đồng ý giao 02 con cho vợ nuôi, anh không cấp dưỡng, nhưng anh có tiền sẽ phụ vợ nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, anh không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có, anh không yêu cầu giải quyết. Ngày 28-8-2023 anh có đơn xin giải quyết vắng mặt. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Chị T và anh C có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt, có lý do nên xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kim T1 đối với anh Nguyễn Văn C; về con chung: giao 02 cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10-6-2007 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20-10-2015 cho chị T1 được quyền nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và về nợ chung: không đặt ra giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: chị T1 và anh C có đơn xin vắng mặt có lý do, nên xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: chị T1 và anh C tự nguyện tổ chức lễ cưới với nhau vào năm 2006, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2020.

Xét thấy, do anh chị sống không phù hợp, bất đồng quan điểm, nên hay cãi vã gây gổ nhau. Theo chị T1 là do anh C không đi làm để có tiền chi phí cho gia đình, mà anh hay bỏ đi rượu chè, cờ bạc, về nhà thì la lối chửi mắn, cuộc sống không hạnh phúc, đến giữa năm 2020 chị và anh C có lời qua tiếng lại cãi vã, dằn co với nhau, nên chị dẫn con bỏ về nhà cha mẹ ở và xin ly hôn. Qua làm việc anh C cung cấp lời khai là do vợ cờ bạc thiếu nợ, anh phải bán nhà trả nợ xong, khi có dịch bệnh vợ bỏ đi luôn, nhưng anh không tham gia các phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải, tức là anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được, anh chị đã sống ly thân từ năm 2020, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T1 đối với anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có 02 cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10-6-2007 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20-10-2015, hiện chị T1 đang nuôi. Chị T1 yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Anh C đồng ý theo yêu cầu của chị T1. Xét thấy, qua xem xét các cháu Ý, K, thì các cháu có nguyện vọng muốn sống với mẹ, nghỉ nên chấp nhận yêu cầu của chị T1, giao 02 cháu Ý, K cho chị T1 được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của các cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình. Ghi nhận chị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị T1, anh C không yêu cầu, nên không giải quyết.

Về nợ chung: chị T1, anh C khai không có, nên không giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên toà là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm ly hôn: chị T1 chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn C. Chị T được ly hôn với anh C.

2. Về con chung: giao 02 cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10-6-2007 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20-10-2015 cho chị Võ Thị Kim T được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: chị T, anh C không yêu cầu, nên không giải quyết.

4. Về nợ chung: chị T, anh C khai không có, nên không giải quyết.

5. Về án phí: chị Võ Thị Kim T chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0027420 ngày 27-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Chị T nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ