- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Kim L .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH A Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 5 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn H.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng N.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc H.
- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T ,
tỉnh A .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lam E - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 08/02/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/4/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Đinh Thị Kim L , sinh năm 1981. (Có mặt).
Địa chỉ: khóm T , thị trấn O , huyện T , tỉnh A .
2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn T , sinh năm 1979. (Vắng mặt).
Địa chỉ: khóm T , thị trấn O , huyện T , tỉnh A .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 27/3/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đinh Thị Kim L trình bày: sau thời gian tìm hiểu, bà L với ông T tiến đến hôn nhân vào năm 2006, tuy không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân H , huyện Tân H, tỉnh K ngày 19/3/2009. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên Nguyễn Hữu N , sinh ngày 07/02/2010. Quá trình chung sống, do ông T thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng cãi vã nhau dẫn đến bất hòa trong đời sống vợ chồng. Mặc dù bà L nhiều lần khuyên ngăn, gia đình 02 bên cũng đã hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn trầm trọng. Nhận thấy, không còn tình cảm với ông T nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: bà L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T .
- Về con chung: cháu Nguyễn Hữu N đang sống chung với bà L nên bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N ; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về hôn nhân: bà Đinh Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn T .
+ Về con chung: giao cháu Nguyễn Hữu N cho bà Đinh Thị Kim L chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
+ Về án phí: bà Đinh Thị Kim L yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn T có địa chỉ tại thị trấn O , huyện T , tỉnh A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Văn T đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông T đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: bà Đinh Thị Kim L và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn nên được Ủy ban nhân dân (UBND) xã Tân H , huyện Tân H, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 19/3/2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà L và ông T phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Nguyên đơn bà L cho rằng, quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do ông T không lo làm ăn, khi uống rượu thì gây chuyện cãi cọ, xô xát với bà L. Mâu thuẫn vợ chồng diễn ra trong suốt thời gian dài và ngày càng trầm trọng nên bà L không còn tình cảm với ông T.
Về phía bị đơn, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt trực tiếp thông báo hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông T và bà L hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông T không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được duy trì quan hệ hôn nhân với bà L.
Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 06/4/2023, được đại diện khóm T , thị trấn O , huyện T , tỉnh A cung cấp như sau: ông Nguyễn Văn T và bà Đinh Thị Kim L chung sống có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 01 con chung. Hiện nay mâu thuẫn gia đình xảy ra liên tục, do ông T thường xuyên uống rượu nên vợ chồng bất hòa trong cuộc sống hằng ngày.
Từ những nhận định tại mục [3], xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T đã phát sinh mâu thuẫn trong suốt thời gian dài. Mặc dù bà L đã khuyên ngăn, gia đình hai bên cũng hòa giải nhưng bà L và ông T vẫn bỏ mặc nhau từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, vì giữa 02 người không còn tình nghĩa vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị Kim L .
Về quan hệ con chung: bà L và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Hữu N , sinh ngày 07/02/2010. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N ; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu N sống chung với bà L và được học hành ổn định. Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của cháu Nguyễn Hữu N lập ngày 03/4/2023 thì cháu muốn được sống với bà L. Do vậy, để tạo điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần của cháu N , Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L; giao cháu N cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Đinh Thị Kim L yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Kim L .
1.1. Về hôn nhân: bà Đinh Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn T .
Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 19 tháng 3 năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã Tân H , huyện Tân H, tỉnh K cấp cho ông Nguyễn Văn T , bà Đinh Thị Kim L không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: bà L và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Hữu N , sinh ngày 07/02/2010.
Giao cháu Nguyễn Hữu N cho bà Đinh Thị Kim L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu N đang sống chung với bà L). Ông Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Đinh Thị Kim L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
1.3. Về tài sản chung: không có.
1.4. Về nợ chung: ghi nhận bà L xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Đinh Thị Kim L , ông Nguyễn Văn T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Đinh Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0011521 ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh A (bà L đã nộp đủ).
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh A ; - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - Các đương sự (Để thi hành); - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (để biết); - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn H |