vanban.org

Bản án 84/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lương Thị T; Xử cho bà Lương Thị T được ly hôn với ông Phan Văn T1.

Về con chung: Giao cháu Phan Thị Ngọc T2, giới tính: nữ; sinh ngày 04/04/2020 cho bà Lương Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Phan Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Phan Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Thúy - Phan Văn T - T/C ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lương Thị T; Xử cho bà Lương Thị T được ly hôn với ông Phan Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-8-2023
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thủy

2. Ông Vòng Quốc Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền: Ông Vũ Văn Long.

Ngày 24 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 07 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 08 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bài Lương Thị T, sinh năm: 1996. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: E33, Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Phan Văn T1 – sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: T27, tổ D, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lương Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị T và ông Phan Văn T1 chung sống vợ chồng với nhau có tổ chức lễ cưới và đăng kí kết hôn vào ngày 04/11/2016 theo đúng quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Tuy nhiên, đến đầu năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Từ những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, lòng tin, về kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình, vì vậy vợ chồng thường xuyên xảy ra những tranh cãi và bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung bà Lương Thị T và ông Phan Văn T1 có một người con chung là Phan Thị Ngọc T2, giới tính: nữ; sinh ngày 04/04/2020. Hiện tại cháu Phan Thị Ngọc T2 đang sống chung với bà T. Ly hôn bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Thị Ngọc T2 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tải sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Phan Văn T1: Tại biên bản xác minh ngày 14-5-2023 của Tòa án, kết quả xác minh ông Phan Văn T1 có nơi cư trú tại: T, tổ D, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hiện ông T1 vẫn thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên với ba là ông Phan Văn T3 và mẹ là bà Võ Thị H.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự cho ông T1, tuy nhiên ông T1 không có mặt theo thông báo của Tòa án. Ông T1 cũng không có văn bản ghi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sựbị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lương Thị T.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Phan Thị Ngọc T2, giới tính: nữ; sinh ngày 04/04/2020 cho bà Lương Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện của bà Lương Thị T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Phan Văn T1 có có nơi cư trú tại: T27, tổ D, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Phan Văn T1 đến phiên tòa nhưng ông T1 vắng mặt; căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy, bà Lương Thị T và ông Phan Văn T1 chung sống vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đìnhhệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp. Đối với ông T1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 tham gia phiên tòa tuy nhiên ông T1 vắng mặt không có lý do, có thái độ trốn tránh, không có thiện chí hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương chứng tỏ ông T1 đã bỏ mặc không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân giữa ông T1 và bà T.

Qua các chứng cứ và lời khai của các đương sự chứng tỏ mâu thuẫn gia đình giữa bà T và ông T1 là có thật và không hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà Lương Thị T và ông Phan Văn T1 có với nhau 01 người con chung là Phan Thị Ngọc T2, giới tính: nữ; sinh ngày 04/04/2020. Khi ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi ly thân đến nay bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, hơn nữa hiện nay cháu T2 còn rất nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc giáo dục của mẹ, việc làm và thu nhập của bà T cũng ổn định nên Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu T2 cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Lương Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm; ông Phan Văn T1 không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lương Thị T; Xử cho bà Lương Thị T được ly hôn với ông Phan Văn T1.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Ngọc T2, giới tính: nữ; sinh ngày 04/04/2020 cho bà Lương Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Phan Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phan Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lương Thị T phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001723, ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Phan Văn T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bà Lương Thị T biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24-8-2023). Riêng ông Phan Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo qui định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ