vanban.org

Bản án 84/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] TU bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; [3] Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] TU bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T P
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2022/HS-ST
Ngày: 26-04-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P - THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Hạp Thị Thanh;

- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang;

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận T P, Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T P, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T P, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 03 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991, tại tỉnh K G; Thường trú: 106/35/67 N T H, phường V B, thành phố R G, tỉnh K G; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn M và bà Nguyễn Thị Kim C; có chồng và 02 con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018);

- Tiền sự: Ngày 11/10/2016, bị Tòa án nhân dân huyện B C, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 05/02/2018;

- Nhân thân: Ngày 16/9/2011, bị Tòa án nhân dân quận B T, Thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 19/9/2004, bị áp dụng biện pháp giáo dục đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng; Ngày 01/4/2007, bị áp dụng biện pháp giáo dục đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng; Ngày 17/7/2013, bị Ủy ban nhân dân Quận S, Thành phố H áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 25/4/2015; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2020 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T P, TP. H và có mặt tại phiên tòa.

- Người Bị hại: 1/ Bà Lương Thị Th, sinh năm: 1960; Địa chỉ: 26C N T L, Phường 4, quận T B, Thành phố H. (vắng mặt) 2/ Bà Trần Thị L, sinh năm: 1965; địa chỉ: 347 N T N, ấp P H, xã P H Đ, huyện C C, Thành phố H. (vắng mặt) 3/ Bà Huỳnh Thị Tố U, sinh năm: 1983; Địa chỉ: E1/2C8 Q Đ, xã V L A, huyện B C, Thành phố H. (vắng mặt) 4/ Em Huỳnh Anh N, sinh năm: 2005; Địa chỉ: 341/27 K V, phường P T, quận T P, Thành phố H. (vắng mặt) Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quốc Th2 và bà Sơn Thị P (vắng mặt) 5/ Bà Ngô Thị Minh Th1, sinh năm: 1996; Địa chỉ: C6/13 Võ Văn V, phường V L B, huyện B C, Thành phố H. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1991; Địa chỉ: 127 T H Đ, phường B T Đ, quận B T, Thành phố H. (vắng mặt) 2/ Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm: 1965; Địa chỉ: 127 T H Đ, phường B T Đ, quận B T, Thành phố H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền tiêu xài nên từ tháng 10/2018 đến tháng 5/2020, Nguyễn Thị Thanh T thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản như sau: Vụ thứ nhất: Ngày 20/10/2018, Nguyễn Thị Thanh T đi xe khách từ tỉnh K G lên thành phố H. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T đi đến siêu thị Aeon T P số 30 B B T T, phường S K, quận T P tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. T đeo túi xách đi xung quanh khu vực tầng trệt của siêu thị. Đến khoảng 20 giờ 05 phút cùng ngày, T phát hiện chị Lương Thị Th đang đứng mua hàng ở quầy hàng đông lạnh có đeo một túi xách màu đen bên hông phải. T tiếp cận từ phía sau áp sát bên phải chị Th rồi dùng tay phải kéo khóa túi xách của chị Th lấy trộm được 440.000 đồng. Sau khi lấy được tiền, T cất giấu vào túi xách của mình rồi bỏ đi sang khu vực khác trong siêu thị. Một lúc sau, T phát hiện chị Trần Thị L đang đứng mua hàng tại quầy thịt đông lạnh, trong túi áo khoác bên phải của chị L có tiền nhô ra bên ngoài. Thấy vậy, T liền đi đến áp sát người vào bên phải chị L rồi dùng tay phải lấy trộm được 6.000.000 đồng trong túi áo khoác của chị L. T cất số tiền vào trong túi xách của mình rồi bỏ đi sang khu vực rau quả của siêu thị. Tại đây, T phát hiện chị Huỳnh Thị Tố U có đeo túi xách màu đen ở phía trước nên tiếp cận, áp sát người vào bên phải chị U rồi dùng tay phải mở khóa túi xách của chị U lấy trộm được 01 chiếc bóp vải bên trong có 3.100.000 đồng cùng một số giấy tờ. T bỏ chiếc bóp của chị U vào túi của mình rồi bỏ đi.

Sau khi các chị Lương Thị Th, Trần Thị L và Huỳnh Thị Tố U phát hiện bị mất tài sản liền đến báo nhân viên siêu thị Aeon T P. Nhân viên an ninh siêu thị Aeon T P kiểm tra camera của siêu thị thì phát hiện hành vi trộm cắp tài sản của T nên khi T bỏ đi đến cửa cổng của siêu thị thì bị bắt giữ cùng vật chứng đưa đến công an phường S K, quận T P để xử lý.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 1081/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 09/6/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú xác định:

- 01 chiếc bóp làm bằng vải, màu đen, có sọc ngang nhiều màu, hoa văn màu đen và trắng, đã qua sử dụng, trị giá 5.000 đồng.

Ngày 26/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngày 22/3/2019 ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thị Thanh T về tội Trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, T đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu nên ngày 27/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can và quyết định truy nã đối với Nguyễn Thị Thanh T.

Vật chứng:

- Số tiền 9.540.000 đồng đã thu hồi, trong đó, của chị Lương Thị Th là 440.000 đồng, chị Trần Thị L là 6.000.000 đồng, chị Huỳnh Thị Tố U là 3.100.000 đồng. Cơ quan công an đã trả lại số tiền nêu trên cho chị Th, chị L, chị U, các chị đã nhận lại và không yêu cầu gì khác.

- 01 chiếc bóp làm bằng vải, màu đen, có sọc ngang nhiều màu, hoa văn màu đen và trắng, đã thu hồi. Cơ quan công an đã trả lại chiếc bóp cho chị U, chị U đã nhận lại và không yêu cầu gì khác.

- 01 điện thoại di động màu trắng, số Imei: 86542502930xxxx, là tài sản cá nhân của T.

- 01 túi xách có hình bông màu đen, xanh đỏ, hồng, T dùng để cất giấu tài sản trộm cắp.

- Số tiền 1.500.000 đồng, là tài sản cá nhân của T.

Các vật chứng đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 327 ngày ngày 25/10/2018.

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 13/6/2019, Nguyễn Thị Thanh T đi xem ôm đến cửa hàng bán quần áo Su Su số 447 N T, phường 7, Quận F tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi vào trong cửa hàng, T giả vờ xem quần áo. Một lúc sau, T phát hiện em Huỳnh Anh N (sinh ngày 28/3/2005) có đeo túi xách ở phía trước bên trái nhưng không kéo khóa nên T đi đến áp sát phía sau bên trái em N rồi dùng tay phải lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng của em N. T cầm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X trên tay phải rồi nhanh chóng bỏ đi ra cửa để tẩu thoát thì bị nhân viên cửa hàng là chị Nghiêm Thị T tri hô và bắt giữ T cùng vật chứng giao cho Công an phường 7, Quận 5 để xử lý. Theo bản kết luận định giá tài sản số 82/HĐĐG ngày 18/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 5 xác định:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X-64GB, màu trắng, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 95%, trị giá 16.500.000 đồng. Ngày 19/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với T do T đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, T bỏ đi khỏi nơi cư trú nên ngày 15/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Quận 5 ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Thị Thanh T. Ngày 19/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Quận F ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can. Vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X-64GB, màu trắng, thu hồi được. Cơ quan công an đã trả lại điện thoại nêu trên cho em N, em N đã nhận lại và không yêu cầu gì khác.

- 01 túi xách đeo chéo màu xanh, bên trong có 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị Thanh T (đã trả thẻ bảo hiểm y tế cho T). Các vật chứng đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 175 ngày ngày 15/7/2020. Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 11/5/2020, Nguyễn Thị Thanh T điều khiển xe gắn máy biển số 59U2-3xx.xx đến siêu thị Aeon B T số 1 đường 17A, phường B T Đ B, quận B T tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. T đi qua các khu trong siêu thị Aeon B T, khi đi đến khu vực ăn uống T phát hiện chị Ngô Thị Minh Th1 đang đi ngược chiều về phía T có đeo túi xách loại dây chéo màu đen ở bên hông trái. T thấy trong túi xách của chị Th1 có một phần của chiếc điện thoại di động Huawei P30 lite nhô ra khỏi túi xách nên T quyết định lấy trộm. T tiếp tục đi bộ về phía chị Th1, tư thế đối diện nhau. Khi đi đến sát bên phải chị Th1, T dùng tay trái lấy trộm chiếc điện thoại di động Huawei P30 lite rồi bỏ đi. Cùng lúc này, qua quan sát camera an ninh của siêu thị Aeon B T, bảo vệ siêu thị đã phát hiện hành vi trộm cắp điện thoại của T nên khi T vừa đi đến cổng siêu thị thì bị nhân viên bảo vệ giữ lại và đưa T về phòng bảo vệ của siêu thị để làm việc. Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, chị Th1 sử dụng điện thoại của bạn để gọi vào số điện thoại của mình thì được bảo vệ siêu thị thông báo đã tìm được điện thoại và mời chị Th1 đến phòng bảo vệ để làm việc. Sau đó, chị Th1 cùng nhân viên bảo vệ siêu thị Aeon B T đưa T cùng vật chứng đến Công an phường B T Đ, quận B T trình báo sự việc. Theo bản kết luận định giá tài sản số 670/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B T xác định:

- 01 điện thoại di động Huawei P30 lite Imei 1: 86621404770xxxx, Imei 2: 86621404773xxxx, đã qua sử dụng, trị giá 3.500.000 đồng. Ngày 09/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an B T khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Thanh T về tội Trộm cắp tài sản và chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P để điều tra theo thẩm quyền. Vật chứng:

- 01 điện thoại di động Huawei P30 lite Imei 1: 86621404770xxxx, Imei 2: 86621404773xxxx, thu hồi được. Cơ quan công an đã trả lại điện thoại nêu trên cho chị Th1, chị Th1 đã nhận lại và không yêu cầu gì khác.

- 01 xe gắn máy Honda, loại Vario, biển số: 50U2-3xx.xx, số khung: MH1KF4117KK-58xxxx, số máy: KF41E-185xxxx. T khai xe gắn máy này T mượn của anh Nguyễn Văn T1 để đi công việc. Qua xác minh, xe gắn máy Vario biển số 50U2-3xx.xx do bà Nguyễn Thị Bích V thường trú tại 145E H T K, phường 1, Quận T đứng tên sở hữu. Qua làm việc, bà V (là mẹ anh Nguyễn Văn T1) cho biết xe này do anh Nguyễn Văn T1 mua, do anh T1 bị mất giấy chứng minh nhân dân nên nhờ bà V đứng tên chủ xe. Tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn T1, anh T1 cho biết xe gắn máy trên do anh mua, nhưng anh bị mất giấy chứng minh nhân dân nên nhờ mẹ anh là bà Nguyễn Thị Bích V đứng tên chủ xe. Khoảng 09 giờ ngày 11/5/2020, anh T1 có cho T mượn xe gắn máy Vario, biển số: 50U2-3xx.xx để đi công việc. Việc T trộm cắp tài sản anh T1 không biết, không liên quan nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy Vario biển số 50U2-3xx.xx cho anh Nguyễn Văn T1 và anh T1 đã nhận lại xe.

- 01 điện thoại di động Sony G3312, số Imei1: 35811808831xxxx, Imei2: 35811808831xxxx là tài sản cá nhân của T.

- 01 USB đã được niêm phong bằng bìa thư dán kín có chữ ký ghi tên C L G P và hình dấu Công an phường B T Đ B, quận B T.

Các vật chứng đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 175 ngày ngày 15/7/2020.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Quá trình làm việc, Nguyễn Thị Thanh T khai báo đang mang thai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đưa T đi khám sức khỏe tại Bệnh viện quận T P. Trong quá trình khám sức khỏe, T đã bỏ trốn nhưng bị phát hiện, bắt giữ kịp thời.

Tại Bản cáo trạng số: 124/CT-VKSQTP ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận T P, Thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T P, Thành phố H trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm s,n khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận T P, Thành phố H, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Ngày 11/9/2020 Tòa án nhân dân quận T P, TP. H đưa vụ án ra xét xử và xử phạt bị cáo T 02 năm tù và tổng hợp 09 tháng tù của Bản án số 212/2011/HS-ST ngày 16/9/2011 của Tòa án nhân dân quận B T, TP. H. Ngày 16/6/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. H kháng nghị Bản án số 123/2020/HS-ST ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân quận T P, TP. H đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. H hủy Bản án sơ thẩm số 123/2020/HS-ST ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân quận T P, TP. H. Ngày 29/9/2021 Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP. H ban hành Bản án số 60/2021/HS-GĐT hủy Bản án số 123/2020/HS-ST ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân quận T P, TP. H để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Lý do tòa án sơ thẩm tổng hợp 09 tháng tù chưa thi hành của Bản án số 212/2011/HS-ST đã hết hiệu lực của Tòa án nhân dân quận B T, TP. H là không đúng với quy định của pháp luật. [2] Đánh giá hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào các ngày 20/10/2018, 13/6/2019 và ngày 11/5/2020, Nguyễn Thị Thanh T đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn quận T P, Quận F và quận B T với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 29.545.000 đồng thì bị bắt giữ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận T P truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Khi được tại ngoại để điều tra bị cáo lại bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra, đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cũng cần lưu ý khi lượng hình với bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T đã nhiều lần thực hiện các vụ trộm cắp tài sản là thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại là em Huỳnh Anh N khi đó chưa đủ 16 tuổi là thuộc trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Khi phạm tội bị cáo T đang có thai nên được áp dụng điểm n, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: đã được giải quyết tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 123/2020/HS-ST ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân quận T P, TP. H.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] TU bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

[3] Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 12/5/2020).

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tU án. Các bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ