vanban.org

Bản án 84/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Nguyễn Khắc T 18 ( Mười tám) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2022. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon đa Wave, màu đen không gắn biển kiểm soát; số máy JA39E-2425547; số khung RLHJ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2022/HSST
Ngày: 30/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

-T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Ngô Thị Duệ và bà Nguyễn Thị Ngọc

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Ngguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2022/HSST ngày 16/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/QĐXXST-HS ngày 18/11/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Khắc T - sinh năm: 2003; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn DX, xã HN, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 08/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Thanh – sinh năm: 1975 và con bà Đinh Thị T2– Sinh năm: 1978; vợ, con: chưa có; Tiền sự: không. Tiền án: Ngày 01/01/2021, bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2021.

Nhân thân: Ngày 03/9/2022, bị Cơ quan CSĐT- Công an huyện Mỹ Đức khởi tố bị can số 223 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1, điều 134 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2022 cho đến nay. Hiện, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an T phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Anh Nguyễn Ngọc Đ – sinh năm: 1980. (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn PLT, xã PL, huyện Ứng Hoà, Tp. Hà Nội

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trịnh Xuân T1 – sinh năm: 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn ĐX, xã HN, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội

+ Bà Đinh Thị T2– sinh năm: 1978 (Có mặt)

Địa chỉ: thôn DX, xã HN, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị H – sinh năm: 1961 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Tế Tiêu, TT. Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Tp. Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ, ngày 28/9/2022, Nguyễn Khắc T điều khiển xe mô tô Wave an pha màu đen, không đeo biển kiểm soát từ nhà đến khu vực xã Lưu Hoàng để chơi. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, T đi về đến địa phận thôn Phù Lưu Thượng, xã Phù Lưu, do điện thoại của T hết pin nên T đi vào cửa hàng điện thoại Ngọc Đ của anh Nguyễn Ngọc Đ để sạc nhờ điện thoại. Khi vào quán T nhìn thấy anh Đ đang nằm ngủ trên sập gỗ ở phòng trong, T gọi nhưng không thấy anh Đ trả lời. Lúc này, T quan sát thấy cửa tủ đựng điện thoại trưng bầy để bán không khoá nên nảy sinh ý định trộm cắp. T dùng tay phải mở cửa kính tủ ra lấy 01 điện thoại I Phone 6 Plus màu ghi và 01 điện thoại Sam Sung A03S màu đen, T cho 02 điện thoại vào túi quần bên phải rồi ra xe đi về nhà. Sau đó, T mang chiếc điện thoại Sam Sung A03S màu đen đến cửa hàng điện thoại Trịnh T1 Mobi của anh Trịnh Xuân T1 bán cho anh T1 với giá 1.400.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T mang chiếc điện thoại I Phone 6 Plus màu ghi đến khu vực Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức rồi vào quán nước ở vỉa hè trước cửa nghĩa trang liệt sỹ của bà Nguyễn Thị Hà uống nước, tại đây T bán cho người nam giới không quen biết với giá 1.800.000 đồng. Số tiền bán 02 chiếc điện thoại trên T đã chi tiêu cá nhân hết. Biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật ngày 29/9/2022, T đến Công an xã Phù Lưu xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại Sam Sung A03S màu đen do anh Trịnh Xuân T1 giao nộp.

- 01 đĩa DVD - R Maxeco màu vàng bên trong có 02 tập tin video được trích xuất từ camera an ninh của cửa hàng điện thoại Ngọc Đ ghi lại hình ảnh T vào trộm cắp tài sản do anh Nguyễn Ngọc Đ giao nộp.

Thu của Nguyễn Khắc T:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon đa Wave, màu đen không gắn biển kiểm soát; số máy JA39E-2425547; số khung RLHJA3926MY400353;

- 01 phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng số 31270182;

- 01 hoá đơn giá trị gia tăng số 00000010;

- 01 biên bản điều chỉnh hoá đơn.

Với hành vi nên trên cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Nguyễn Khắc T về tội: “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173 BLHS; Điểm h khoản 1 điều 52; Điểm b, s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 38 BLHS tuyên phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/9/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Vật chứng: Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon đa Wave, màu đen không gắn biển kiểm soát; số máy JA39E-2425547; số khung RLHJA3926MY400353 và các giấy tờ liên quan.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.400.000 đồng mà anh Trịnh Xuân T1 bỏ ra mua chiếc điện thoại Samsung A03S màu đen của Nguyễn Khắc T, anh T1 có quan điểm không yêu cầu T phải bồi thường. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu ghi, T trộm cắp của anh Nguyễn Ngọc Đ trị giá 2.500.000 đồng, bà Đinh Thị T2là mẹ của T đã thay T bồi thường cho anh Đ, anh Đ đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm. Bà T2có quan điểm không yêu cầu T phải trả lại bà số tiền trên. Do vậy, không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 BLTTHS; NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 án phí HSST theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 28/9/2022, tại thôn Phù Lưu Thượng, xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa, T phố Hà Nội, Nguyễn Khắc T lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S plus màu ghi và 01 chiếc điện thoại di động Samsung A03S màu đen tổng trị giá là 5.200.000đ (năm triệu hai trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Ngọc Đ.

Do vậy, hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Khắc T chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2021 trở về địa phương, đến ngày 28/9/2022 Bị cáo tiếp tục phạm tội khi chưa được xoá án tích nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS;

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tác động đến gia đình để khắc phục hậu quả, bị cáo ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với anh Trịnh Xuân T1, ngày 28/9/2022 đã mua chiếc điện thoại Samsung A03S màu đen của Nguyễn Khắc T, khi mua anh T1 không biết nguồn gốc chiếc điện thoại trên là do T trộm cắp mà có, đến khi Cơ quan Công an đến làm việc anh T1 mới biết chiếc điện thoại trên do T trộm cắp đem bán. Bản thân anh T1 đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho Công an để phục vụ công tác điều tra. Do vậy anh T1 không vi phạm pháp luật.

Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không gắn biển kiểm soát, số khung: RLHJA3926MY400353, số máy JA39E-2425547 và các giấy tờ liên quan gồm: 01 phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng số 31270182; 01 biên bản điều chỉnh hóa đơn của Công ty TNHH thương mại dịch vụ Xuân Điều; 01 Hóa đơn giá trị gia tăng số 00000010. Quá trình điều tra xác định là của Nguyễn Khắc T mua mới vào ngày 15/12/2021 đến nay chưa đăng ký biển số. Ngày 11/11/2022, Công an huyện Ứng Hoà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145 đối với Nguyễn Khắc T về hành vi “Điều khiển xe không gắn biển số” được quy định tại điểm c, khoản 2, điều 17 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi tại điểm m, khoản 34, điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ) và hành vi “không làm thủ tục đăng ký xe” theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ. Tổng mức phạt 1.400.000 đồng là có căn cứ.

Trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.400.000 đồng mà anh Trịnh Xuân T1 bỏ ra mua chiếc điện thoại Samsung A03S màu đen của Nguyễn Khắc T, anh T1 có quan điểm không yêu cầu T phải bồi thường. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu ghi, T trộm cắp của anh Nguyễn Ngọc Đ trị giá 2.500.000 đồng, bà Đinh Thị T2là mẹ của T đã thay T bồi thường cho anh Đ, anh Đ đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm. Bà T2có quan điểm không yêu cầu T phải trả lại bà số tiền trên. Do vậy, không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Đối với điện thoại di động Samsung A03S màu đen là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1980, ở thôn Phù Lưu Thượng, xã Phù Lưu. Ngày 05/10/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 54, xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu ghi và người mua chiếc điện thoại này của T. Theo T khai bán cho một người nam giới khoảng 35 đến 40 tuổi cao khoảng 1,60m đến 1,65m, tóc đen cắt ngắn, mặc quần áo tối màu không quen biết tại Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm số 401 ngày 7/10/2022 tuy nhiên đến nay chưa tìm thấy, nên không đề cập xử lý.

01 xe mô tô nhãn hiệu Hon đa Wave, màu đen không gắn biển kiểm soát; số máy JA39E-2425547; số khung RLHJA3926MY400353 là tài sản hợp pháp của T. T đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội của mình do đó, cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS,Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS năm 2015

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt Nguyễn Khắc T 18 ( Mười tám) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon đa Wave, màu đen không gắn biển kiểm soát; số máy JA39E-2425547; số khung RLHJA3926MY400353.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Khắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại , người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ