- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2022/HS-ST Ngày: 25/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Tốt.
Ông Nguyễn Văn Quản.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, số 277/50 Khu phố 3, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn Th; sinh năm 1970, tại Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số 91/4Q, Ấp Dân Thắng 2, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Con ông Tô Văn Đ và bà Lê Thị L; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt và tạm giam ngày 13/10/2021; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Cổ phần bán lẻ Kỹ thuật số F;
Địa chỉ trụ sở: Số 261-262 Đường K, Phường 2, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ H;
Địa chỉ trụ sở: Số 57B Đường Nguyễn Văn Quỳ, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 4 năm 2017, Công ty Cổ phần bán lẻ kỹ thuật số F Shop ký hợp đồng với Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H để thuê nhân viên Lê Văn Th với nhiệm vụ trực bảo vệ cửa hàng vào ban đêm từ 22 giờ đến 08 giờ 00 phút, ngày hôm sau tại cửa hàng, với nhiệm vụ là bảo vệ bên ngoài cửa hàng, Th không được giao quản lý tài sản cửa hàng. Khi hết giờ làm việc thì quản lý cửa hàng niêm phong máy tính trên kệ và niêm phong cửa rồi ra về. Sáng hôm sau quản lý đến mở niêm phong mở của để kinh doanh.
Khoảng 01 giờ 47 phút,, ngày 03/10/2017, Lê Văn Th, đang trực bảo vệ cho cửa hàng F Shop, địa chỉ số 51-53-55 đường Lê Văn Khương, tổ 1, khu phố 1, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì nảy sinh ý định lấy trộm máy vi tính xách tay (laptop) để bán lấy tiền trả nợ. Th lén lút đi vào các kệ của cửa hàng để lấy trộm 24 máy vi tính xách tay gồm: 10 máy vi tính xách tay hiệu DELL, 04 máy vi tính xách tay hiệu HP, 06 máy vi tính xách tay hiệu ASUS, 04 máy vi tính xách tay hiệu LENOVO, bỏ vào một thùng giấy carton chở đi tìm chỗ bán.
Ngày 04/10/2017, Th cầm 01 máy vi tính xách tay cho 01 tiệm cầm đồ tại Quận 4 được số tiền 2.000.000 đồng. Th bán 02 máy vi tính xách tay cho 02 thanh niên đi đường không rõ lai lịch được số tiền 4.000.000 đồng để tiêu xài. Đến ngày 06/10/2017, bà Lê Thị Đặng mẹ ruột của Th gọi điện thoại nói Th trả lại máy xách tay cho Công ty nên Th chở 21 máy laptop đến trước cây xăng “Thành Công” thuộc xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn giao cho bà Đặng, đồng thời chỉ chỗ cho bà Đặng chuộc lại 01 máy laptop ở Quận 4, hiện Th không còn nhớ địa chỉ và tên tiệm cầm đồ, sau đó Th bỏ trốn. Bà Đặng chuộc lại máy tính và trả lại 22 máy tính xách tay cho Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ H nơi Th làm việc. Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ H sau khi nhận lại 22 máy tính từ bà Đặng đã bán lại cho Công ty TNHH F với giá 170.000.000 đồng, do trước đó Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ H đã bồi thường cho Công ty TNHH F.
Riêng xe mô tô Th sử dụng làm phương tiện khi trộm cắp tài sản là xe mô tô (không xác định biển số) do Th mượn của người đàn ông tên Tèo (không rõ lại lịch). Sau khi lấy trộm được tài sản, Th chở tài sản trộm cắp được đi lòng vòng tìm người mua nhưng không bán được nên Th giao lại cho mẹ ruột là Lê Thị Đặng để trả cho chủ, còn xe mô tô Th trả cho Tèo và bỏ trốn cho đến ngày 13/10/2021, bị bắt theo quyết định truy nã. Hiện nay, Th không biết Tèo ở đâu (nên không thu giữ được xe mô tô của Th sử dụng khi trộm cắp tài sản).
Tại bản kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 12 số 465/KLĐG ngày 15/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, kết luận: 24 máy tính xách tay các loại, trong vụ “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 03/10/2017 tại phường Hiệp Thành là 246.389.099 đồng
Vật chứng vụ án:
- 24 máy tính xách tay các loại.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Trần Thanh Phương, là quản lý của hàng F Shop đã nhận bồi thường của Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H là 275.360.000 đồng. Đại diện Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H yêu cầu bị can Lê Văn Th bồi thường 100.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 148/CTr-VKS ngày 29 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Lê Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 vẫn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn Th từ 07 năm đến 08 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Th đồng ý bồi thường cho Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H số tiền 100.000.000 đồng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Khoảng 01 giờ 47 phút ngày 03/10/2017, tại cửa hàng F Shop địa chỉ số 51 53-55, Đường Lê Văn Khương, Tổ 1, Khu phố 1, phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 24 máy tính các loại, trị giá là 246.389.099 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của bị hại và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lê Văn Th đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Vì lười lao động, nảy lòng tham, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên cố tình phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Trần Thanh Phương, là quản lý của hàng F Shop đã nhận bồi thưởng của Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H số tiền là 275.360.000 đồng. Đại diện Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H yêu cầu bị cáo Lê Văn Th bồi thường 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo tự nguyện bồi thường cho Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H số tiền 100.000.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H số tiền trên.
Xử lý vật chứng:
Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Buộc cáo bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ H số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí:
Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12; - Công an Quận 12; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Lê |