- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2022/HS-ST Ngày 06/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phương Tín
2. Ông Nguyễn Hoàng Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2022/HSST-QĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. H V Tr; sinh ngày 05/02/1997; tại Gia Lai; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Thôn xx, xã xx, huyện xx, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở: xx Bảy Tấn, Tổ x, ấp x, xã xxx, huyện xx, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H V H và bà H T L (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. L V T; sinh ngày 10/5/1990; tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Thôn xx, xã xx, huyện xx, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở: Tổ x, khu phố x, phường xx, thành phố xx, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L V T (chết) và bà N T H. Bị cáo có vợ tên là P T Á N; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08/7/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án. Ngày 29/8/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xử phạt 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong bản án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. L M C; sinh ngày 27/8/1995; tại Gia Lai; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Thôn xx, xã xx, huyện xx, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở: Tổ x, khu phố x, phường xx, thành phố xx, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L M H và bà V T N N; tiền án: Ngày 25/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong bản án; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/8/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xử phạt 28 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong bản án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Đ T P; sinh ngày 13/8/2003; tại Cà Mau; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Ấp xxx, xã xx, huyện xx, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: xx Hoàng Bá Bích, phường xx, thành phố xx, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ M T và bà V T B; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông S Q, sinh năm 2000; nơi cư trú: x Xóm Đất, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông S Đ, sinh năm 2000; nơi cư trú: x Dương Đình Nghệ, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 09/7/2022, đối tượng H V Tr phát hiện bạn gái liên lạc với tài khoản Facebook tên “Tươi Gucci” (không rõ lai lịch) nên phát sinh mâu thuẫn và hẹn “Tươi Gucci” đến x Dương Đình Nghệ, Phường x, Quận x để đánh nhau. Đối tượng Tr gọi điện thoại nhờ L V T đang ở Tổ x, Khu phố x, phường xx, thành phố xx, tỉnh Đồng Nai giúp đỡ. Đối tượng T rủ thêm L M C và Đ T P cùng đi. Đối tượng T giấu 02 mã tấu trong áo rồi cùng đối tượng C và đối tượng P thuê xe taxi đến điểm hẹn 1196 Đường 3/2, Phường 8, Quận 11. Đối tượng Tr mang theo 01 bình xịt hơi cay và 01 dao Thái Lan bỏ trong túi quần, điều khiển xe máy hiệu Wave, biển số 81N5-8093 đến.
Tại điểm hẹn, đối tượng Tr và đối tượng T gặp riêng đối tượng C nhờ giúp đánh nhau, Cường đồng ý. Đối tượng T cầm 01 mã tấu và đưa cho đối tượng C 01 mã tấu khác rồi cả 03 người cùng đến chỗ của đối tượng P. Khi đối tượng P nhìn thấy Trung, Toàn và Cường cầm mã tấu thì biết là đi đánh nhau. Đối tượng Tr giao xe máy biển số 81N5-8093 kêu đối tượng P chở đến x Dương Đình Nghệ, Phường x, Quận x để đánh nhau. Khi đến nơi, cả ba đối tượng Tr, Toàn và Cường xuống xe, còn đối tượng P thì chạy tới trước một đoạn đứng chờ. Cả ba đối tượng thấy ông S Q và ông S Đ đang ngồi trong nhà nghĩ là “Tươi Gucci”. Đối tượng T cầm 01 mã tấu, đối tượng C cầm 01 mã tấu, đối tượng Tr cầm bình xịt hơi cay ở bên tay phải còn tay trái thì cầm dao Thái Lan xông vào đuổi đánh ông S Q và ông S Đ. Ông S Q và ông S Đ bỏ chạy, tri hô thì cùng lúc có một nhóm nam thanh niên cầm gậy chạy đến. Lúc này, đối tượng C đuổi theo ông S Q đến trước nhà 82 Dương Đình Nghệ, Phường 8, Quận 11, dùng mã tấu chém vào khuỷu tay phải ông S Q 01 cái. Sau đó, đối tượng Tr dùng bình xịt hơi cay; còn đối tượng T và đối tượng C dùng mã tấu đánh nhau với nhóm thanh niên. Đối tượng T bị đánh vào mũi, còn đối tượng C thì bị đánh vào chân. Sau đó cả ba đối tượng ném mã tấu lại rồi bỏ chạy. Đối tượng P nhìn thấy sự việc, điều khiển xe máy trên đến đón đối tượng T và đối tượng C rồi tăng ga, chạy đi. Đối tượng Tr chạy bộ một đoạn thì té ngã, bị nhóm thanh niên đuổi kịp, dùng gậy đánh. Công an Phường 8, Quận 11 đến đưa đối tượng Tr về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang.
Một lúc sau, đối tượng P điều khiển xe máy chở đối tượng T và đối tượng C quay lại tìm đối tượng Tr thì bị Công an Phường 8, Quận 11 đưa về trụ sở làm việc.
Bản kết luận giám định thương tích số 603/TgT.22 ngày 02/8/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Vết thương mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải gây đứt da, đứt gân duỗi cổ tay trụ, đứt gân duỗi ngón V, gãy xương trụ đã được điều trị khâu vết thương ... Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông S Q là 8%.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Tr, T, C, P thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Bản kết luận giám định thương tích số 604/TgT.22 ngày 02/8/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Bị can T có vết thương phần mềm vùng nhân trung. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
Bản kết luận giám định thương tích số 591/TgT.22 ngày 02/8/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Bị can Tr có xây xát da vùng đỉnh phải, bả vai phải, tụ máu bầm giữa lưng, bả vai trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
Bị can T và bị can Tr có yêu cầu khởi tố hình sự đối với việc bị gây thương tích nhưng do bị đánh nên không nhận dạng được đối tượng gây thương tích cho hai bị can. Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét, xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, ông S Q và ông S Đ trình bày: Ông S Q ông S Đ không phải là người có tên là “Tươi Gucci”, không quen biết hay nhắn tin hẹn đánh nhau với các bị can Tr, T và C và cũng không quen biết nhóm thanh niên đuổi đánh nhau với các bị can. Ông S Q có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Vật chứng thu giữ:
- Một dao mã tấu, một cây kim loại hình tròn, là hung khí bị can T dùng để tham gia gây thương tích.
- Một dao Thái Lan, một bình xịt hơi cay cầm tay, là hung khí bị can Tr dùng để tham gia gây thương tích.
- Một điện thoại di động hiệu Oppo A-2020 và một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu vàng, là phương tiện bị can Tr và bị can T dùng để liên lạc rủ đi đánh nhau gây thương tích.
- Một xe máy hiệu Wave biển số 81N5-8093, là phương tiện bị can P chở các bị can đến nơi đánh nhau gây thương tích. Qua xác minh do ông Đ V Th đứng tên. Ông Th bán xe máy trên cho ông N Q H. Ông H bán xe trên cho một người không rõ lai lịch. Bị can Tr mua xe máy trên từ một người không rõ lai lịch.
- Một điện thoại di động hiệu Redmi, là tài sản riêng của bị can C.
- Một đĩa DVD chứa hình ảnh vụ việc. Lưu hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: ông S Q và ông S Đ không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 95/CT-VKSQ11 ngày 26/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố các bị can H V Tr, L V T, L M C và Đ T P tội danh “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là ông S Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11. Ông S Q không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông S Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11. Ông S Đ không có yêu cầu bồi thường gì.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt các bị cáo như sau:
- Đề nghị xử phạt bị cáo H V Tr từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị xử phạt bị cáo L V T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị xử phạt bị cáo L M C từ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Đ T P từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh của vụ án.
- Tịch thu tiêu hủy một mã tấu, một cây kim loại hình tròn, một dao Thái Lan, một bình xịt hơi cay.
- Tịch thu sung công quỹ một điện thoại di động hiệu Oppo A-2020, một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu vàng; tiếp tục truy tìm chủ sở hữu của một xe máy hiệu Wave biển số 81N5-8093, trường hợp không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo L M C một điện thoại di động hiệu Redmi.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 09/7/2022, tại trước nhà số x Dương Đình Nghệ, Phường x, Quận x, các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P đã có hành vi dùng mã tấu, bình xịt cay và dao Thái Lan đuổi đánh, chém vào cẳng tay phải của ông S Q gây thương tích tỷ lệ là 8%.
Hành vi phạm tội của các bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn giữa H V Tr với một người có tên là “Tươi Gucci” và hẹn gặp để đánh nhau tại địa chỉ trước nhà số x Dương Đình Nghệ, Phường x, Quận x nhưng lại nhận lầm ông S Q là người có tên là “Tươi Gucci” nên các bị cáo đã gây thương tích cho ông S Q.
Qua những vấn đề đã được chứng minh của vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P phạm tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm để trừng trị và giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo H V Tr là người chủ mưu, rủ rê các bị cáo khác cùng đi đánh nhau với người khác. Bị cáo L V T là người chuẩn bị hai cây mã tấu, một cây do bị cáo sử dụng và một cây còn lại giao cho bị cáo L M C. Bị cáo L M C là người trực tiếp dùng mã tấu chém ông S Q gây thương tích. Bị cáo Đ T P phạm tội với vai trò là người điều khiển xe chở các bị cáo Tr, Toàn, Cường đến nơi đánh ông S Q và đứng cảnh giới, chờ chở các bị cáo bỏ chạy. Vai trò của bị cáo H V Tr và bị cáo L M C trong vụ án là tương đương nhau, có mức độ nghiêm trọng hơn vai trò phạm tội của bị cáo L V T và bị cáo Đ T P. Bị cáo Đ T P không Thm gia trực tiếp đánh nhau, chỉ tham gia với vai trò hạn chế là cảnh giới và chở các bị cáo còn lại; do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nặng hơn đối với các bị cáo H V Tr và L M C so với bị cáo L V T và bị cáo Đ T P.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P gây thương tích cho ông S Q với tỷ lệ thương tích là 8%, tuy chưa đến mức 11% nhưng việc các bị cáo sử dụng mã tấu, bình xịt cay và dao Thái Lan làm hung khí để chém ông S Q được xác định là hành vi “dùng hung khí nguy hiểm”. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Sự việc mâu thuẫn giữa bị cáo H V Tr với đối tượng tên “Tươi Gucci” không liên quan gì đến ông S Q; các bị cáo L M C và L V T và Đ T P hoàn toàn không có mâu thuẫn gì với đối tượng tên “Tươi Gucci” và ông S Q nhưng khi được bị cáo Tr rủ đi đánh nhau thì liền đồng ý tham gia đi đánh nhau gây thương tích cho người khác nên hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo H V Tr và Đ T P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo L M C đang có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là một đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh vụ việc do Công an Phường 8, Quận 11 lập biên bản thu thập, trích xuất dữ liệu camera và đưa vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Công an Phường 8, Quận 11 và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với vật chứng là một cây dao mã tấu, một cây kim loại hình tròn, một dao Thái Lan, một bình xịt hơi cay cầm tay là hung khí các bị cáo dùng để tham gia đánh nhau gây thương tích. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Oppo A-2020 và một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu vàng là phương tiện bị cáo Tr và bị cáo T liên lạc rủ đi đánh nhau gây thương tích. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với vật chứng là một xe máy hiệu Wave biển số 81N5-8093, là phương tiện bị cáo P chở các bị cáo đến nơi đánh nhau gây thương tích. Qua xác minh đã xác định được xe do ông Đ V Th đứng tên. Ông Th bán xe máy trên cho ông N Q H. Ông H bán xe trên cho một người không rõ lai lịch. Bị cáo Tr mua xe máy trên từ một người không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành trưng cầu giám định đối với chiếc xe. Theo kết luận giám định số 13475/KLKTHS ngày 05/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì số khung, số máy của chiếc xe trên không Thy đổi. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của bị cáo H V Tr; bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Redmi, là tài sản riêng của bị cáo L M C không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo L M C.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông S Q không có yêu cầu bồi thường, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Trong quá trình xảy ra sự việc, bị cáo L V T và bị cáo H V Tr khai bị một nhóm thanh niên cầm gậy đánh trúng mũi và chân nhưng không xác định được lai lịch và không nhận dạng được ai đánh các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không có cơ sở để xử lý các đối tượng trên.
Về án phí:
Các bị cáo P chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo H V Tr và Đ T P;
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo L V T;
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo L M C;
Tuyên bố các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo H V Tr 01 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2022.
Xử phạt bị cáo L M C 01 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2022.
Xử phạt bị cáo L V T 01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2022.
Xử phạt bị cáo Đ T P 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2022.
Căn cứ Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh vụ việc.
Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy một cây dao mã tấu, một cây kim loại hình tròn, một dao Thái Lan, một bình xịt hơi cay cầm tay (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK-CSHS ngày 20/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Oppo A-2020 và một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu vàng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK-CSHS ngày 20/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe máy hiệu Wave biển số 81N5-8093. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK-CSHS ngày 20/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Trả lại cho bị cáo L M C một điện thoại di động hiệu Redmi (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK-CSHS ngày 20/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Các bị cáo H V Tr, L V T, L M C và Đ T P, mỗi bị cáo P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |