vanban.org

Bản án 84/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 24/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H đối với ông Nguyễn HA.

Buộc ông Nguyễn HA phải trả cho ông Dương Văn H số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 46… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hào An"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H đối với ông Nguyễn HA.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2022/DS-ST
Ngày 24-6-2022
V/v tranh chấp vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng;

Bà Nguyễn Thị Cờ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Ly- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2021/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2021 về Tranh chấp vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXX-ST ngày 05/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88 ngày 27/5/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1958;

Địa chỉ: Thôn Hà Phong, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số 321, Khương Trung, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông T có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn HA, sinh năm 1976;

ĐKHKTT: Số 40, phố Trường Lâm, quận Long Biên, Hà Nội.

Địa chỉ nơi làm việc: Công ty Luật TNHH Nguyễn An, P1007, tầng 10, tòa nhà Ford Thăng Long, số 105 LH, phường LH, quận Đống Đa, Hà Nội. Ông An vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 20/7/2015 ông Dương Văn H có cho ông Nguyễn HA vay số tiền 200.000.000 đồng để ông An viết dự án làm ăn cùng ông H (dự án vườn ao chuồng tại thôn Đào Phong, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội). Việc vay tiền có viết giấy vay nợ, vay không có lãi suất và thời gian vay dài hạn. Do nhiều lý do nên việc thực hiện dự án không thành, sau đó nhiều lần ông H đã gặp ông An yêu cầu trả lại số tiền ông H đã cho ông An vay nhưng ông An không trả. Ngày 29/7/2020 ông H đã gửi thư yêu cầu ông An trả nợ tới địa chỉ số 40 phố Trường Lâm, quận Long Biên, Hà Nội, ông An đã trực tiếp nhận ký vào phiếu báo phát của bưu điện nhưng ông An không liên lạc lại với ông H để trả nợ. Ngày 18/8/2020 ông H tiếp tục gửi thư đến nơi ở của ông An để yêu cầu ông An trả nợ, lần thứ hai ông An nhận được thư nhưng cũng không liên lạc lại cho ông H để trả nợ. Ngày 01/12/2020, ông Nguyễn Đức T đã gửi thư thông báo yêu cầu trả nợ lần 3 tới ông An và thông báo ông H đã khởi kiện ông An tại Tòa án, ông An nhận được thư nhưng cũng không liên lạc lại cho ông H để trả nợ. Nay ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông An phải trả lại cho ông H số tiền gốc là 200.000.000 đồng, về số tiền lãi ông H không yêu cầu ông An phải trả.

Bị đơn ông Nguyễn HA đã được triệu tập hợp lệ, được tống đạt các văn bản tố tụng của vụ án nhưng không có mặt theo triệu tập. Tòa án đã đến nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi làm việc của ông An để xác minh, lấy lời khai nhưng ông An thường xuyên không có mặt nên không thể lấy được lời khai của ông An.

Tại phiên tòa:

- Đại diện nguyên đơn trình bày: Đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn HA phải trả cho ông Dương Văn H số tiền 200.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng cần rút kinh nghiệm về việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H, buộc ông Nguyễn HA phải trả cho ông H số tiền 200 triệu đồng. Ông Nguyễn HA phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng các tài liệu Tòa án xác minh thu thập được xác định đây là vụ án dân sự tranh chấp vay tài sản. Bị đơn ông Nguyễn HA có hộ khẩu thường trú tại số 40 phố Trường Lâm, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội nhưng ông An không cư trú tại nơi đăng ký hộ khẩu. Qua xác minh ông An là Giám đốc và làm việc tại Công ty TNHH Nguyễn An có địa chỉ tại P1007, tầng 10, Tòa nhà Ford Thăng Long, số 105 LH, phường LH, quận Đống Đa, Hà Nội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, việc Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Ông Nguyễn HA đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn HA.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

* Xét yêu cầu của ông Dương Văn H yêu cầu ông Nguyễn HA phải thanh toán số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy:

Ông Dương Văn H khởi kiện ông Nguyễn HA yêu cầu ông An phải trả số tiền 200.000.000 đồng. Ông H cung cấp cho Tòa án Giấy cho vay tiền có ghi nội dung: “ngày 20/7/2015 ông Dương Văn H có cho ông Nguyễn HA (số giấy chứng minh thư xxxxxxxxx ngày cấp 16/4/2009, địa chỉ: số 40, phố Trường Lâm, Long Biên, Hà Nội) vay số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), thời gian vay dài hạn, lãi suất vay 0% (không), mục đích vay: để lo viết dự án và làm cùng ông H tại dự án vườn ao chuồng thôn Hà Phong, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội”. Giấy cho vay tiền có chữ ký và ghi họ tên của ông Nguyễn HA.

Ông Nguyễn HA đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ nhưng ông An không có ý kiến, quan điểm gì đối với những chứng cứ ông H cung cấp và việc khởi kiện của ông H, như vậy ông An đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Hợp đồng vay của ông H và ông An là Hợp đồng vay không có kỳ hạn và không có lãi suất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 477 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: đối với Hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thỏa thuận khác. Ông Dương Văn H đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu ông Nguyễn HA trả nợ nhưng không có hồi âm. Vì vậy việc ông H khởi kiện yêu cầu ông An phải trả số tiền 200.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Từ những nhận định và phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn HA có nợ ông Dương Văn H số tiền 200.000.000 đồng nên buộc ông Nguyễn HA phải trả cho ông H số tiền trên.

* Về lãi vay: Do ông Dương Văn H không yêu cầu ông An phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn ông Dương Văn H thuộc trường hợp được miễn không phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức nộp án phí Tòa án là 10.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 471, Điều 474, Điều 477 Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H đối với ông Nguyễn HA.

2. Buộc ông Nguyễn HA phải trả cho ông Dương Văn H số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn HA phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ