- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Đỗ Quang N phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN N DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2021/HS-ST Ngày 30-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng.
Các Hội thẩm N dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Toà án N dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2021/TLST-HS ngày 02/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2021/QĐXXST-HS ngày 15/11/2021 đối với bị cáo:
Đỗ Quang N sinh ngày 14/9/1996 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Ng và bà Nguyễn Thị Mh; có vợ Phan Thu Ng và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ ngày 20/7/2021 đến ngày chuyển 23/7/2021 tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Ông Ngô Văn Đ sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Hoàng Đức V sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Kim Sơn, xã Lê Thiện, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 19/10/2020, Đỗ Quang N đi qua khu vực nghĩa trang N dân thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng phát hiện tại phần mộ của gia đình ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1959, trú tại thôn C, xã L, huyện A có một cây mẫu đơn hoa trắng cao khoảng 3,2m, tán rộng 3,3m, hai thân, mỗi thân có đường kính khoảng 12cm không có ai trông coi nên nảy sinh ý định đào trộm cây mang về nhà trồng. Khoảng 14 giờ ngày 21/10/2020, N đến nhà Trần Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương thì phát hiện thấy có chiếc thuổng để ở gần cổng nên đã lấy mang đến nghĩa trang thôn Cữ để đào cây. N đào đến 16 giờ cùng ngày thì xong. Do cây to và nặng nên N để cây tại vị trí cũ rồi về nhà Đ trả chiếc thuổng. Đến 19 giờ cùng ngày khi N đang ăn cơm ở nhà Đ thì Hoàng Đức V, sinh năm 1992, trú tại thôn K, xã L, huyện A đến chơi. Tại đây, N nhờ V sáng hôm sau đến chở cây mẫu đơn về nhà mình. Hoàng Đức V đồng ý. Khoảng 8 giờ ngày 22/10/2020 N lấy cuộn dây nilon tại nhà Đ, sau đó N chỉ đường nhờ Đ chở sang gần khu vực nghĩa trang thôn Cữ. Đến nơi, N đi bộ vào khu vực đã đào cây hôm trước còn Đ quay xe đi về. N dùng cuộn dây nilon buộc cành và bầu của cây mẫu đơn đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày thì xong. Ngay sau đó, V điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream màu xanh - đen biển số 16F-8337 phía sau có giá chở hàng đi đến. Cả hai đưa cây mẫu đơn lên xe, chằng buộc đến 9 giờ cùng ngày thì V đi xe chở cây ra khỏi nghĩa trang, N đi sau giữ cây. Khi cả hai đi được khoảng 100m thì anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, trú tại thôn C, xã L, huyện A phát hiện yêu cầu N và V dừng lại. Anh T hỏi nguồn gốc cây ở đâu thì V quay ra hỏi N “Cây mua ở đâu”. Anh T yêu cầu gọi chủ cây ra thì N không gọi được rồi cùng V chửi bới, yêu cầu anh T tránh đường. Anh T tiếp tục đứng chắn phía trước và dùng thanh sắt mang theo đánh vào tay của V để ngăn cản không cho đi. Thấy V bị đánh, N rút thanh kiếm để ở sườn xe mô tô của V đánh lại anh T, anh T lùi lại tránh được. V giằng thanh kiếm từ tay N vứt ra đường sau đó tiếp tục yêu cầu anh T tránh đường. Sau đó người dân đi đến thì V và N bỏ chạy, V bị người dân giữ lại còn N chạy thoát; Công an xã Lê Thiện đến tiếp nhận lập biên bản.
Ngày 21/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Dương kết luận: 01 cây mẫu đơn (loại mẫu đơn trắng) cao 3,2m, tán rộng 3,3m, có hai thân lớn mỗi thân có đường kính 12cm trị giá 12.000.000 đồng.
Ngày 23/6/2021 Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã đối với Đỗ Quang N. Ngày 20/7/2021 Đỗ Quang N bị bắt.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Quang N đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. N khai thực hiện một mình, không bàn bạc với Trần Văn Đ và Hoàng Đức V. N không nói cho Đ và V biết nguồn gốc cây do N trộm cắp mà có.
Vật chứng của vụ án gồm: Thu giữ 01 thanh kiếm dài 65cm của Hoàng Đức V; cây hoa mẫu đơn đã trả lại cho chủ sở hữu ông hợp pháp. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 16F1-8337 chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra làm rõ sau.
Về dân sự: Đã giải quyết xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung Kết luận định giá tài sản.
Cáo trạng số 77/2021/CT-VKS ngày 01/11/2021 của Viện kiểm sát N dân huyện An Dương truy tố bị cáo Đỗ Quang N về tội Trộm cắp tài sản. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự (BLHS) xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện; mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật và giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương và Điều tra viên, của Viện kiểm sát N dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành vi vào hồi 09 giờ ngày 22/10/2020 Đỗ Quang N chiếm đoạt cây hoa mẫu đơn trồng trong phần mộ của gia đình ông Ngô Văn Đ tại nghĩa trang thôn C, xã, huyện A gây thiệt hại trị giá 12.000.000 đồng là phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 của BLHS. Hành vi bị cáo N dùng kiếm hành hung, đánh anh Thành để tẩu thoát Khi anh Thành phát hiện hành vi phạm tội đã ngăn cản, nên bị cáo đã vi phạm quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 của BLHS. Các chứng cứ xác định bị cáo không có tội được loại trừ.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về hình phạt: Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo mức án bằng mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Khoản 5 Điều 173 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, do hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 thanh kiếm dài 65cm do bị cáo Đỗ Quang N dùng thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Bị hại không yêu cầu bồi thường khoản nào khác nên không xét. Tài sản chiếm đoạt Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là phù hợp pháp luật. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius đeo biển số 16F1-8337 hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra làm rõ sau là phù hợp pháp luật. Hành vi V giúp N chở cây nhưng không biết đây là tài sản phạm tội nên không xử lý là có căn cứ. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ kết luận Đ cùng N trộm cắp cây mẫu đơn nên không xử lý là có căn cứ. Hành vi anh T dùng thanh sắt đánh V để ngăn cản hành vi phạm tội nhưng không có thương tích nên không xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Đỗ Quang N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/7/2021.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Đỗ Quang N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm dài 65cm (tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại và người có QLNVLQ đến vụ án; - VKSND huyện An Dương; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra CA huyện An Dương; - Cơ quan THAHSCA huyện An Dương; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện An Dương; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |