- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| B n án s : 84/2021/HS-ST Ng : 28-6-2021 |
NHÂN DANH
- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: B Lê Thị Vân Quỳnh
Các H i th m nhân dân:
Bà Trần Thị Thú
B Trần Ánh Nhạn
- Th ký phiên tòa: B Lưu Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân hu n ò ầu, tỉnh Tâ Ninh.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Gò D u, t nh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh - Kiểm sát viên.
Ng 28 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân hu n ò ầu, tỉnh Tây Ninh, t c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 77/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021, theo Qu ết định đưa vụ án ra t s 83/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2021 đ i với bị cáo:
Trần Văn G, tên gọi khác: không có; sinh năm 1998, tại tỉnh Tâ Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, hu n , tỉnh Tâ Ninh; nghề nghi p: không có; trình độ học vấn: 01/12; qu c tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; con ông Lê Văn và bà Trần Thị G; vợ, con: chưa có; tiền sự: Ngày 30-01-2020 bị C ng an hu n ò ầu phạt 750.000 đồng về h nh vi “S dụng trái ph p chất ma tú ” (bị cáo chưa nộp phạt); tiền án: Ngày 12-5-2020 bị Tòa án nhân dân hu n ò ầu phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp t i s n”. Bị tạm giữ ng 23-4-2021, đến ng 27-4-2021 bị tạm giam cho đến na “Có mặt”.
- Bị hại: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Ấp T, xã T, hu n G, tỉnh Tâ Ninh (Vắng mặt).
Ụ :
Theo các t i li u có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn G có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài s n”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù ngày 08-12-2020, bị cáo về sinh s ng cùng bà Nguyễn Thị Đ, là bà ngoại của bị cáo tại ấp T, xã T, huy n G. Qua quan sát và theo dõi, bị cáo biết gia đình của chị Trần Thị Thu H (là hàng xóm với nhà bà ngoại của bị cáo) thường đi vắng, kh ng có người ở nhà vào ban ngày, nên bị cáo n sinh ý định đột nhập vào nhà chị H lấy trộm tài s n, để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy s dụng.
Kho ng 14 giờ ngày 15-4-2021, bị cáo đi bộ đến nhà chị H, thấy nhà khóa c a trước bị cáo vòng ra phía sau nhà, thấy c a sau được khóa bằng ch t kim loại, giữa cánh c a và vách tường có khe hở. Bị cáo đưa ngón ta cái v ngón ta trỏ vào trong kéo ch t c a, rồi đột nhập vào trong nhà lấy trộm 01 đi n thoại di động hi u Itel L6002P loại S15 Pro 32GB và s tiền 370.000 đồng. Sau khi lấy trộm, bị cáo ra ngoài và ch t c a lại như ban đầu.
Tài s n trộm được bị cáo tr nợ cho bà Nguyễn Thị Ngọc Y 300.000 đồng. Bị cáo đem đi n thoại đến ti m đi n thoại D thuộc khu ph T, thị trấn G, thuê bẻ khóa để s dụng liên lạc cá nhân thì bị chị H phát hi n và trình báo Công an x lý.
Tại B n kết luận định giá tài s n s 27/KL-HĐ ngày 26-4-2021 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự huy n Gò Dầu kết luận: 01 đi n thoại di động hi u Itel L6002P loại S15 Pro 32GB trị giá 770.000 đồng.
Về trách nhi m dân sự: Chị H đã nhận lại đi n thoại di động và không yêu cầu bồi thường s tiền 370.000 đồng.
Về kê biên tài s n: Do bị cáo không có tài s n nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Tại b n cáo trạng s 76/CT-VKSGD ngày 25-5-2021 của Vi n kiểm sát nhân dân hu n ò ầu đã tru t bị cáo Trần Văn G về tội: “Trộm cắp t i s n”, theo qu định tại đểm b kho n 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại di n Vi n kiểm sát nhân dân hu n ò ầu trong phần tranh luận vẫn giữ ngu ên qu ết định tru t bị cáo về tội “Trộm cắp t i s n”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng t căn cứ v o điểm b kho n 1 Điều 173, điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: X phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Kh ng áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo. Vật chứng cùng vấn đề bồi thường thi t hại đã lý ong nên kh ng đặt ra gi i qu ết.
Bị cáo kh ng có tranh luận v kh ng nói lời sau cùng.
N Ậ Ị
:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Về h nh vi, qu ết định t tụng của cơ quan điều tra C ng an hu n ò ầu, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân hu n ò ầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru t đã thực hi n đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục theo qu định của Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo v bị hại kh ng có người n o có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, qu ết định của các cơ quan tiến h nh t tụng, người tiến h nh t tụng. o đó, các h nh vi, qu ết định t tụng của cơ quan tiến h nh t tụng, người tiến h nh t tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn G đã thừa nhận h nh vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người l m chứng, biên b n khám nghi m hi n trường, b n kết luận định giá t i s n, các chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời luận tội của Kiểm sát viên. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận h nh vi phạm tội của bị cáo như sau: Kho ng 14 giờ ngày 15-4-2021, tại nhà chị Trần Thị Thu H thuộc ấp T, xã T, huy n G. Lợi dụng lúc chị H đi l m v kh ng có người ở nh tr ng giữ t i s n, bị cáo đã đã l n lút đột nhập vào nhà chị H chiếm đoạt 01 đi n thoại di động trị giá 770.000 đồng và s tiền 370.000 đồng. Tổng giá trị tài s n l 1.140.000 đồng. Thấy rằng, bị cáo chiếm đoạt tài s n có giá trị dưới 2.000.000 đồng. Nhưng v o ngày 12-5-2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân hu n ò ầu phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp t i s n”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào 08-12-2020. Nay bị cáo tiếp tục phạm tội. Căn cứ v o điểm b, kho n 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích. Nên h nh vi phạm tội lần n của bị cáo thuộc trường hợp“Đã bị kết án về t i này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. o đó, h nh vi phạm tội của bị cáo có đủ ếu t cấu th nh tội: “Trộm cắp t i s n”, tội phạm v hình phạt được qu định tại điểm b kho n 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng. H nh vi phạm tội của bị cáo đã âm phạm đến qu ền sở hữu t i s n của c ng dân, gâ mất trật tự trị an ở địa phương. Ngu ên nhân dẫn đến phạm tội l do bị cáo kh ng chịu lao động lương thi n để sinh s ng, lại nghi n ma túy nên mu n có tiền tiêu i một cách nhanh chóng và bất hợp pháp. Cho nên bị cáo ph i chịu trách nhi m hình sự do h nh vi phạm tội m bị cáo gâ ra.
[4] X t về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhi m hình sự đ i với bị cáo thì thấ : Bị cáo l người nghi n ma tú ; bị cáo có 01 tiền sự l ngày 30-01-2020 bị C ng an hu n ò ầu phạt 750.000 đồng về h nh vi “S dụng trái ph p chất ma tú ”, đến na bị cáo vẫn chưa nộp phạt. Sau khi phạm tội bị cáo“Thành kh n khai báo” nên bị cáo được áp dụng tình tiết gi m nhẹ qu định tại điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định trên Hội đồng t cần xem xét và qu ết định hình phạt tương ứng với tính chất mức độ v h nh vi phạm tội của bị cáo, để có tác dụng răn đe, giáo dục v phòng ngừa.
[6] Do bị cáo kh ng có t i s n nên Hội đồng t kh ng áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo l phù hợp.
[7] Về bi n pháp tư pháp: Bị hại chị Trần Thị Thu H đã nhận lại đi n thoại di động; đ i với s tiền 370.000 đồng bị hại kh ng có êu cầu bị cáo ph i bồi thường nên Hội đồng t kh ng đặt ra gi i qu ết.
[8] Như những nhận định trên thì lời luận tội v đề nghị của vị đại di n Vi n kiểm sát nhân dân hu n ò ầu l phù hợp nên Hội đồng t cần ghi nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo ph i chịu án phí theo qu định tại Điều 23 của Nghị qu ết s 326/2016/UBTVQH14 ng 30-12-2016 của Ủ ban thường vụ Qu c hội qu định về án phí, l phí Tòa án.
Vì các l trên,
Ị :
- Căn cứ kho n 1 Điều 173, điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tu ên b bị cáo Trần Văn G phạm tội “Trộm cắp t i s n”.
X phạt: Bị cáo Trần Văn G 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng 23-4-2021.
- Về bi n pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự v Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự: Bị hại chị Trần Thị Thu H đã nhận lại đi n thoại di động; riêng s tiền 370.000 đồng bị hại kh ng êu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng t ghi nhận v kh ng đặt ra gi i qu ết.
- Về án phí: Căn cứ v o Điều 23 của Nghị qu ết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ ban thường vụ Qu c hội qu định về án phí, l phí Tòa án: Buộc bị cáo ph i nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ng kể từ ng tu ên án bị cáo có qu ền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tâ Ninh. Riêng bị hại vắng mặt được qu ền kháng cáo trong hạn 15 ng kể từ ng nhận được b n án hoặc b n án được t ng đạt hợp l . N i nh n:
–
- T N tỉnh Tâ Ninh;
- VKSN tỉnh Tâ Ninh;
- VKSN hu n ò ầu;
- CC TH S hu n ò ầu;
- C ng an hu n ò ầu;
- Bị cáo;
- Lưu.
Lê Th