vanban.org

Bản án 84/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 12/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2019. Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ vam dùng để phá khóa xe mô tô. Tình trạng vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 150/BB-THA ngày 12/3/2020 giữa Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 84/2020/HSST
Ngày 12-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Quang Độ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Mai và ông Trần Xuân Giới

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân TP. H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2020 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo.

Lê Văn T, sinh ngày 01/7/1991, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn 9, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị V; Có vợ (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án trên.

Bị bắt quả tang ngày 20/12/2019, hiện đang tạm giam. Có mặt.

- Bị hại: Anh Ngô Anh T, sinh năm 1997

Nơi cư trú: Tổ 3, H 1, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác.

* Người làm chứng:

1. Bà Nghiêm Thị A, sinh năm 1940

Nơi cư trú: Tổ 31C, khu 3, phường C, TP H, Quảng Ninh.

Có mặt.

2. Anh Đoàn Văn D, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Tổ 48B, khu 3, phường C, TP H, Quảng Ninh.

Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/12/2019, Lê Văn T đến cửa hàng của bà Nghiêm Thị A tại số nhà 297 thuộc tổ 31c, khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh mua hàng. Tại đây, T thấy trên vỉa hè trước cửa hàng dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS 14U1-271.68 của anh Ngô Anh T không ai trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T mua 01 túi quýt tại gánh hàng rong rồi treo túi quýt vào xe mô tô BKS 14U1-271.68 để mọi người nghĩ đó là xe của T. Sau đó, T dắt xe mô tô BKS 14U1-271.68 sang khu vực đối diện cửa hàng của bà An khoảng 40 mét để phá khóa xe thì bị bà An phát hiện. Nghe thấy tiếng tri hô, T bỏ xe lại gần khu vực cổng chào khu 3, phường C rồi bỏ chạy vào trong ngõ 19, phường C thì bị anh Đoàn Văn D và một số người dân truy đuổi. Khi T chạy vào trong ngõ được khoảng 100 mét thì bị anh D và người dân đuổi kịp, bắt giữ, bàn giao cho Công an phường C tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tại hiện trường: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 14U1-271.68; thu giữ trong túi quần bên phải của T: 01 bộ vam dùng để phá khóa xe mô tô bao gồm: 01 ống hình trụ tròn bằng kim loại màu trắng dài 04cm, đường kính 01cm và 01 thanh kim loại tối màu, một đầu hình lục lăng, một đầu nhọn, dẹt, dài 06cm.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 263/KLĐG ngày 24/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: trị giá 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 14U1 – 271.68 tại thời điểm bị xâm phạm là 15.145.000 đồng (Mười lăm triệu, một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSHL ngày 10/02/2020, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về vật chứng và bồi thường: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS 14U1-271.68 của anh Ngô Anh T đã trả cho anh T, anh T không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Còn đối với 01 bộ vam dùng để phá khóa xe mô tô thu giữ của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu huỷ.

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H là đúng người, đúng tội; Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, phù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và công nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi phạm tội, vì vậy Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân, khoảng 19 giờ ngày 20/12/2019, bị cáo Lê Văn T đến cửa hàng của bà Nghiêm Thị An tại số nhà 297 thuộc tổ 31C, khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh mua hàng. Tại đây, bị cáo thấy trên vỉa hè trước cửa hàng dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS 14U1-271.68 của anh Ngô Anh T không ai trông coi, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này bị cáo mua 01 túi quýt của một người gánh hàng rong rồi treo túi quýt vào xe mô tô BKS 14U1-271.68 với mục đích để mọi người nghĩ đó là xe của mình. Sau đó, bị cáo dắt chiếc xe này sang khu vực đối diện cửa hàng của bà An khoảng 40 mét để phá khóa xe thì bị bà An phát hiện. Nghe thấy tiếng tri hô, bị cáo bỏ xe lại gần khu vực cổng chào khu 3, phường C rồi bỏ chạy vào trong ngõ 19, phường C thì bị anh Đoàn Văn D và một số người dân truy đuổi. Khi bị cáo chạy vào trong ngõ được khoảng 100 mét thì bị anh D và người dân đuổi kịp, bắt giữ và giao bị cáo T cho Công an phường C, thành phố H.

Lời khai nhận tội của bị cáo tập hợp lại thấy phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Biên bản phạm tội quả tang; sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản ảnh vật chứng, bản kết luận định giá tài sản. Lời khai của bị hại anh Ngô Anh T, những người làm chứng bà Nghiêm Thị An, anh Đoàn Văn D và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, với các chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2019, tại số nhà 297 thuộc tổ 31c, khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Lê Văn T có hành vi lợi dụng sơ hở, chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS 14U1-271.68 của anh Ngô Anh T nhằm mục đích bán kiếm lời. Giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm phạm là 15.145.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”

Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu về tài sản; gây mất an ninh trật tự trị an ở địa phương nói riêng, trật tự xã hội nói chung, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu, Ngày 31/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay đã được xoá án. Nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.

. Tuy nhiên cũng cần phải xét xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tương ứng được quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, nên khi quyết định hình phạt có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nhưng dù có xét thế nào chăng nữa thì cũng nhất thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, nên không có khả năng thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét về vật chứng và bồi thường: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS 14U1-271.68 của anh Ngô Anh T đã trả cho anh T, anh T không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Còn đối với 01 bộ vam dùng để phá khóa xe mô tô thu giữ của bị cáo cần tịch thu, tiêu huỷ.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2019.

Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ vam dùng để phá khóa xe mô tô. Tình trạng vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 150/BB-THA ngày 12/3/2020 giữa Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ