| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 84/2020/HS-ST Ngày 15-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hu .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đ c;
Bà Phạm Thị Bé.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Khang - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành
phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An,
tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST
- HS ngày 01 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thái A, sinh năm 1992 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thƣờng trú: Ấp L, xã T,
huy n Ô, tỉnh Vĩnh Long; nơi tạm trú: Ô, đƣờng số D, DC5, khu dân cƣ S, khu phố V, phƣờng P, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghi p: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 và bà Lê Thị Kim Q, sinh năm 1970; bị cáo chƣa có v con. Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
Ngày 11/9/2010 bị Tòa án nhân dân huy n T, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm
06 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích (bản án số 25/2010/HSST).
Ngày 28/11/2016 bị Công an Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 14121/QĐ-XPHC về hành vi xâm phạm đến s c khỏe ngƣời khác với m c phạt 2.500.000 đồng đã nộp phạt ngày 29/11/2016.
Bị cáo bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 30 tháng
10 năm 2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Ánh Ng, sinh năm 1973; nơi cƣ trú: Khu phố A, phƣờng M, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1968; nơi cƣ trú: Tổ C, ấp A, xã T, huy n C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1995; nơi cƣ trú: Tổ s, ấp a, xã T, huy n C,
Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Cẩm Ng, sinh năm 1989; nơi cƣ trú: Ấp P, xã Đ, huy n M, tỉnh
Đồng Tháp. Vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Thanh D. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
đƣ c tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/09/2018 lực lƣ ng tuần tra Công an phƣờng A
phối h p với Đội An ninh công an thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành tuần tra tại khu vực phƣờng H, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đến trƣớc cây xăng Bình Đ c 1 thuộc khu phố Đ, phƣờng H, thì phát hi n 04 đối tƣ ng (gồm 3 nam 01 nữ không rõ) có biểu hi n nghi vấn nên dừng lại để kiểm tra. Lúc này có 03 đối tƣ ng điều khiển xe mô tô không rõ biển số bỏ chạy, còn lại một đối tƣ ng bị lực lƣ ng tuần tra chặn lại, kiểm tra thu giữ 01 xe máy nhãn hi u YAMAHA, gắn biển số 59Y2-650.40; 08 (tám) tờ tiền m nh giá 500.000 đồng (nghi tiền giả), một đi n thoại hi u OPPO, một đi n thoại hi u ITE. Qua làm vi c An thừa nhận khoảng 15 giờ ngày 05 tháng 9 năm 2018 An mua 08 tờ tiền m nh giá 500.000 đồng trên của một thanh niên (không rõ lai lịch) tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Khi mua xong An bỏ trên giỏ xe gắn giữa baga xe máy nhãn hi u YAMAHA, gắn biển số 59Y2-650.40. Sau đó An mua 02 cọc tiền giấy địa phủ (49 tờ) có chữ số 500.000 đồng rồi trộn lẫn vào tiền giả để trong phong bì thƣ màu trắng cất giữ cùng các tờ tiền giả để bán cho ngƣời khác hƣởng l i. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, An điều khiển xe máy về đến cầu Ông Bố và gọi cho ngƣời mua hẹn đến trƣớc cây xăng Đ thuộc phƣờng H, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng. Tại đây có 03 ngƣời (02 nam 01 nữ) đi trên 02 xe máy (không rõ biển số) chạy đến gặp An. Khi cầm tiền để trao đổi thì bị phát hi n.
Tại bản kết luận giám định số 292/GĐ - PC09 ngày 07/9/2018 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận 08 tờ tiền có các số sêri NY 16284433; NY 16284434; NY 16284436; NY 16284437 là tiền giả bằng phƣơng pháp in phun màu đi n tử.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-P1 ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Vi n
kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thái A về tội “Tàng trữ tiền giả theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngày 24/02/2020 Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng có quyết định số
04/QĐ-VKS-P1 phân công vi n kiểm sát cấp dƣới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên
quyết định truy tố bị cáo về tội danh nhƣ cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 207, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thái A m c hình phạt từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Đối với các đối tƣ ng liên quan hi n không xác định đƣ c nhân thân lai lịch.
Riêng các thông tin số thuê bao 01677499316, 0902817703. Cơ quan An Ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng đã gửi công văn đến chi nhánh Viettel – tập đoàn viễn thông Quân đội và Công ty thông tin di động Mobifone thu thập thông tin chủ thuê bao, đến nay không có kết quả. Khi nào có kết quả sẽ xác minh làm rõ.
Về xử lý vật ch ng:
Đối với xe máy nhãn hi u YAMAHA số khung RLCE55P10DY201694, số
máy 55P1 -201702, gắn biển số 59Y2 - 650.40 không tìm thấy dữ li u tra c u theo chỉ tiêu tìm kiếm nên cần phải giao chiếc xe trên cho Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo pháp luật khi có đủ ch ng c .
Đối với 01 (một) giấy ch ng nhận đăng ký xe máy biển số 64B1- 259.64 mang
tên Nguyễn Thái A không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
08 (tám) tờ tiền giả m nh giá 500.000 đồng gồm các seri sau: NY 16284433 (02
tờ); NY 16284434 (02 tờ); NY 16284436 (02 tờ); NY 16284437 (02 tờ); 49 (bốn mƣơi chín) tờ giấy tiền âm phủ loại 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) là vật ch ng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) đi n thoại di động màu đen có chữ OPPO, 01 (một) đi n thoại di động
màu đỏ đen có chữ ITE là vật ch ng trong vụ án còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc.
Đối với số tiền 10.000.000 đồng là của ông Nguyễn Ánh Ng đƣa cho bị cáo
mƣ n, ông Ngà xác định đây là tiền lƣơng của bị cáo, nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Vi n
kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải và xin đƣ c giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đƣ c
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc vi c
truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hi n đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hi n là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thái A đã khai nhận hành vi Tàng trữ tiền giả
nhƣ nội dung Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra và những ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn c kết luận: Thông qua các trang mạng xã hội, bị cáo quen biết và có mua 08 tờ tiền giả m nh giá 500.000 đồng từ đối tƣ ng không rõ lai lịch vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 05/9/2018. Bị cáo cất giữ các tờ tiền trên với mục đích bán lại cho ngƣời khác để hƣởng l i thì bị bắt quả tang tại cây xăng Đ thuộc phƣờng H, thị xã T, (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng.
Hành vi tàng trữ 4.000.000 đồng tiền giả với mục đích bán lại cho ngƣời
khác để hƣởng l i của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ tiền giả . Do đó, Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo về tội danh “Tàng trữ tiền giả theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣ c sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý tiền t , quản lý kinh tế
của Nhà Nƣớc. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhi m hình sự và ý th c đƣ c hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hi n nên có lỗi cố ý trực tiếp, phạm tội vì động cơ vụ l i. Do vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tƣơng x ng với tính chất, m c độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội Cố ý gây thƣơng
tích và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại đến s c khỏe ngƣời khác nhƣng bị cáo không tu dƣỡng rèn luy n để lấy đó làm bài học, mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với bà Nguyễn Thị Cẩm Ng là ngƣời chung sống nhƣ v chồng với bị
cáo An, bà Ng không biết vi c A tàng trữ tiền giả. Do đó, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng không xem xét xử lý là có căn c .
Đối với xe máy nhãn hi u YAMAHA số khung RLCE55P10DY201694, số
máy 55P1 -201702 và 01 (một) giấy ch ng nhận đăng ký xe máy biển số 64B1-259.64 mang tên Nguyễn Thái A. An khai nhận chiếc xe trên An nhờ một ngƣời tên Tình (không rõ họ tên, địa chỉ) mua và hoàn tất thủ tục sang tên cho bị cáo để bị cáo sử dụng, bị cáo không biết giấy ch ng nhận đăng ký xe trên là giả nên Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng không xem xét xử lý là có căn c .
Đối với các đối tƣ ng liên quan đến vi c mua bán tiền giả hi n không xác
định đƣ c nhân thân lai lịch, đối với các số thuê bao 01677499316, 0902817703, quá trình điều tra chƣa thu thập đƣ c thông tin chủ thuê bao. Do đó, khi nào xác minh đƣ c sẽ xử lý sau.
Lời đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát có căn c , đúng pháp luật nên đƣ c chấp
nhận.
Về xử lý vật ch ng trong vụ án:
Đối với xe máy nhãn hi u YAMAHA số khung RLCE55P10DY201694, số
máy 55P1 -201702, gắn biển số 59Y2 - 650.40. Xét thấy, từ khi khởi tố điều tra vụ án cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng chƣa xác định đƣ c chủ sở hữu h p pháp của chiếc xe trên. Đối với biển số xe 59Y2 - 650.40 thì bà Nguyên xác định trƣớc đây bà có đ ng tên sở hữu chiếc xe máy mang biển số trên. Khoảng tháng 7 năm 2018 chiếc xe trên đã bị mất đến nay chƣa tìm đƣ c. Nay bà không có yêu cầu gì. Vì vậy, cần phải giao chiếc xe và biển số xe trên cho Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo pháp luật khi có đủ ch ng c .
Đối với giấy ch ng nhận đăng ký xe máy biển số 64B1- 259.64 mang tên
Nguyễn Thái A là giấy giả nên cần tịch thu tiêu hủy.
08 (tám) tờ tiền giả m nh giá 500.000 đồng và 49 (bốn mƣơi chín) tờ giấy tiền
âm phủ loại 500.000 đồng là vật ch ng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) đi n thoại di động màu đen có chữ OPPO, 01 (một) đi n thoại di động
màu đỏ đen có chữ ITE là các phƣơng ti n bị cáo sử dụng vào vi c phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
Đối với số tiền 10.000.000 đồng là tiền của bị cáo không liên quan đến vi c
phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào:
- Khoản 1 Điều 207; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
1. Về trách nhi m hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái A phạm tội “Tàng trữ tiền giả .
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật ch ng:
- Tịch thu tiêu hủy gồm:
08 (tám) tờ tiền giả m nh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) gồm các
seri sau: NY 16284433 (02 tờ); NY 16284434 (02 tờ); NY 16284436 (02 tờ); NY 16284437 (02 tờ);
49 (bốn mƣơi chín) tờ giấy tiền âm phủ loại 500.000 đồng (năm trăm nghìn
đồng);
01 (một) giấy ch ng nhận đăng ký xe máy biển số 64B1- 259.64 mang tên
Nguyễn Thái A.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc gồm: 01 (một) đi n thoại di động màu
đen có chữ OPPO và 01 (một) đi n thoại di động màu đỏ đen có chữ ITE.
- Giao cho Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng 01 (một) xe máy
nhãn hi u YAMAHA, có gắn biển 59Y2- 650.40; số khung RLCE55P10DY201694, số máy 55P1 -201702 để xử lý theo thẩm quyền.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thái A số tiền 10.000.000 đồng (mƣời tri u đồng).
(Theo biên bản giao, nhận vật ch ng và ủy nhi m chi chuyển khoản, chuyển
tiền đi n tử số 01 ngày 25/02/2020 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A (nay là thành phố A), tỉnh Bình Dƣơng).
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣ c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣ c bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣ c niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |