vanban.org

Bản án 84/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo C phạm tội cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2019. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chau P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo C phạm tội cố ý gây thƣơng tích.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 84/2020/HS-ST
Ngày 01-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung

2. Ông Từ Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2020/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 95/2020/HSST-QĐ ngày 19/3/2020 đối với bị cáo:

C, sinh năm 1992 tại tỉnh An Giang; thƣờng trú: Số 67 ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; dân tộc: Khmer; con ông Ch, sinh năm 1966 và bà N, sinh năm 1968; bị cáo có 06 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/11/2019, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị hại:

+ Anh Lê Hữu N, sinh năm 2000; thƣờng trú: Ấp P, xã K, huyện C, tỉnh A; tạm trú: Số 101 khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ Anh Lê Văn G, sinh năm 1985; thƣờng trú: Ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Số 101 khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Châu X, sinh năm 1992; vắng mặt.

+ Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1975; vắng mặt.

+ Anh Trịnh Thanh C, sinh năm 1984; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào năm 2015, Chau X làm công nhân tại công ty P thuộc khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Chau X đƣợc phân công làm tại bộ phận chà nhám do anh Lê Văn G làm tổ trƣởng. Đến cuối năm 2018, Chau X xảy ra mâu thuẫn với anh G và xin nghỉ việc. Sau đó, Chau X vào làm công nhân tại công ty S tại phƣờng U, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

Khoảng 12 giờ ngày 08/01/2019, Chau X điện thoại rủ C, là bạn làm cùng công ty S đến khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đánh anh G. Chau X chuẩn bị 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 60 cm và 01 con dao bầu dài khoảng 40 cm cán bằng gỗ cất giấu trong ngƣời. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Chau X mƣợn xe mô tô của một ngƣời bạn tên L (chƣa rõ lai lịch) đi đón C tại khu dân cƣ 434 thuộc phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Chau X chở C đứng tại đƣờng mòn trong khu vƣờn tràm gần công ty P trên đƣờng đi về của anh G và đƣa cho C 01 con dao bầu bằng kim loại dài khoảng 40 cm. C hỏi Chau X đƣa dao để làm gì thì Chau X trả lời chút nữa giúp đánh nhau. Sau đó, Chau X đi trả xe cho bạn và quay lại đứng nơi C đang chờ để chờ anh G đi làm về. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh G chạy xe môtô hiệu Honda AirBlade biển số 67L1-213.79 chở anh Lê Hữu N ngang qua khu vƣờn tràm. Chau X dùng cây gậy ba khúc đánh 01 cái vào lƣng anh G làm anh G và anh N ngã xuống đƣờng. Tiếp đó, Chau X dùng cây gậy ba khúc đánh 03-04 cái vào ngƣời anh G. C cầm 01 con dao bầu chém liên tiếp vào ngƣời anh N gây thƣơng tích. Chau X tiếp tục dùng cây gậy ba khúc đánh 02-03 cái vào ngƣời anh N. Lúc này, anh G tháo thắt lƣng ra đánh trả lại thì Chau X và C bỏ chạy ra đƣờng số 26, khu công nghiệp Sóng Thần 2. Anh G tiếp tục đuổi theo tri hô “Cƣớp, cƣớp” thì đƣợc đội bảo vệ khu công nghiệp Sóng Thần 2 bắt giữ Chau X cùng hung khí giao cho lực lƣợng công an xử lý. Riêng C chạy thoát. Trên đƣờng bỏ chạy, C ném lại con dao bên lề đƣờng đã đƣợc lực lƣợng công an thu giữ.

Ngày 08/01/2019, anh Lê Hữu N làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và giám định thƣơng tích. Riêng anh Lê Văn G bị Chau X dùng gậy ba khúc đánh vào ngƣời nhƣng chỉ bị chấn thƣơng phần mềm nên anh G có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và từ chối giám định thƣơng tích.

Theo Kết luận giám định pháp y số 0052/TgT/2019 ngày 16/01/2019 của Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế tỉnh Đ, kết luận:

+Tổn thƣơng gãy xƣơng trụ phải đã kết hợp xƣơng (áp dụng Chƣơng 8, điều II, mục 10.1). Tỷ lệ 10%.

+Vết thƣơng má trái (trƣớc tóc mai trái) kích thƣớc 2,5x0,2 cm, xấu về thẩm mỹ (áp dụng Chƣơng 9, điều I, mục I). Tỷ lệ 11%.

+ Vết thƣơng mặt sau 1/3 dƣới cẳng tay phải (trên nền vết mổ) tổng kích thƣớc 16x0,3cm (áp dụng Chƣơng 9, điều I, Mục 1). Tỷ lệ 03%.

+ Vết thƣơng mặt ngoài 1/3 dƣới cánh tay trái kích thƣớc 4.5x0,2cm (áp dụng Chƣơng 9, điều I, Mục 1). Tỷ lệ 02%.

+ Vết thƣơng thái dƣơng trái kích thƣớc 05x0,3cm (áp dụng Chƣơng 9, điều I, Mục 1). Tỷ lệ 02%.

+ Vết thƣơng thái dƣơng phải kích thƣớc 02x0,2cm (áp dụng Chƣơng 9, điều I, Mục 1). Tỷ lệ 01%.

+ Vết thƣơng mặt lòng ngón I tay trái kích thƣớc 03x0,2cm (áp dụng Chƣơng 9, điều I, Mục 1). Tỷ lệ 01%.

Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể của anh Lê Hữu Nghi (áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi) do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 27% (hai mƣơi bảy phần trăm).

Ngày 08/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định khởi tố bị can và tạm giam để điều tra đối với Chau X về tội cố ý gây thƣơng tích quy định tại khoản 02 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với Chau X, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đƣa ra xét xử tại Bản án số 162/2019/HSST ngày 05/6/2019 về tội cố ý gây thƣơng tích hình phạt 02 năm 06 tháng tù.

Đối với C bỏ trốn, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An truy nã.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 60 cm, 01 con dao bầu dài khoảng 40cm cán bằng gỗ của C là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, đã đƣợc Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử lý tại bản án số 162/2019/HSST ngày 05/6/2019.

Đối với điện thoại của C gọi cho Chau X đã bị mất trong quá trình bỏ trốn.

Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 06/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo C về tội cố ý gây thƣơng tích quy định tại điểm đ khoản 02 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 02 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để nghị xử phạt bị cáo C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo, bị hại làm đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ngƣời tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 290, 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/01/2019, tại khu vƣờn tràm gần công ty P, khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Chau X dùng cây gậy ba khúc đánh anh G; C dùng dao bằng kim loại chém anh Lê Hữu N gây thƣơng tích tỷ lệ thƣơng tật là 27%. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thƣơng tích quy định tại điểm đ khoản 02 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 132/CT - VKS ngày 06 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo C là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về vai trò trong vụ án, đây là vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò cụ thể. Chau X là ngƣời rủ rê, chuẩn bị công cụ phạm tội. Bị cáo C là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội gây thƣơng tích cho anh N.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có công việc ổn định, có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự, dân tộc Khơ Me. Bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Chau X đã bồi thƣờng cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Xét 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 60 cm, 01 con dao bầu dài khoảng 40cm cán bằng gỗ là công cụ phạm tội, đã đƣợc xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 162/2019/HS-ST ngày 05/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nên không xem xét.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm đủ sức răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo về hình phạt là nghiêm khắc.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo C phạm tội cố ý gây thƣơng tích.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2019.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ