- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2020/ HS-ST Ngày: 31-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng
-Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trước.
2. Ông Trần Văn Hưng.
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Lê Tây Bắc– Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 84/ 2020/ TLST- HS ngày 09 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với:
-Bị cáo: Lê Thanh T, sinh năm: 1999, tại Vĩnh Long.
Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện H, tỉnh L; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh T, sinh năm: 1969 và bà Trần Thị H, sinh năm: 1979; Anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm: 1997 nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Ngày 15/9/2020, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Phạm Hồng L. Ngày 02/10/2020 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ khởi tố về tội trộm cắp tài sản và được tại ngoại điều tra. Do bị cáo bỏ trốn nên ngày 20/11/2020 bị bắt theo quyết định truy nã và chuyển tạm giam cho đến nay.
-Bị hại: Chị Phạm Hồng L, sinh năm: 1959. Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện H, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 15/9/2020, Lê Thanh T đi bộ từ nhà thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đến huyện Long Hồ để tìm tài sản lấy trộm. Tùng đi ngang nhà chị Phạm Hồng L, sinh năm: 1959, ấp T, xã P, huyện H, tỉnh L phát hiện cửa nhà chị L không khóa bên ngoài. T đi đến gần nhìn vào bên trong thấy khoen cửa chỉ móc ổ khóa nhưng không bóp khóa. T nhặt thanh tre trước nhà, thọt qua khe cửa đẩy ổ khóa rớt xuống đất và mở cửa đi vào nhà tìm tài sản để lấy trộm.
T đi đến chiếc xe loại Altila biển kiểm soát 63B1-756.93 dựng trong nhà, có cắm sẳn chìa khóa. T mở dưới ba ga xe thấy có 02 cái bóp da màu xanh và màu trắng – đen. T lấy 02 cái bóp rồi đi bộ về nhà, trên đường đi T kiểm tra trong bóp màu xanh có 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 bằng lái xe, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe đều mang tên Phạm Hồng L và 20 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; kiểm tra cái bóp màu đen bên trong có 50 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cất giữ và ném bỏ 02 cái bóp cùng giấy tờ cá nhân của chị L rồi tiếp tục đi về nhà tại phường 4, thành phố Vĩnh Long. Sau đó T dùng tiền trộm được chơi game bắn cá và tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 05 giờ cùng ngày chị L phát hiện mất tài sản và trình báo Công an. Ngày 17/9/2020 Cơ quan điều tra mời T làm việc thì T thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của chị L.
Cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.
Tại phiên tòa: Chị L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 20.000.000 đồng.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Lê Thanh T có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Hồng L 20.000.000 đồng.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu hủy 01 thanh tre có kích thước 67 x 2,4 x 0.5 cm ( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm vào 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại. Bị cáo hứa sau khi chấp hành án xong sẽ bồi thường số tiền cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 02 giờ ngày 15/9/2020 Lê Thanh T có hành vi lén lúc mở cửa vào nhà chị Phạm Hồng L tại ấp T, xã P, huyện H, tỉnh L mở cóp xe lấy trộm 02 cái bóp bên trong có 20.000.000 đồng và 01 số giấy tờ cá nhân.
Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người, đúng tội.
. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi có ý trực tiếp. Lợi dụng sơ hở của bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút mở cửa vào nhà của chị L, sau đó mở cóp xe để lấy tài sản của chị L là số tiền 20.000.000 đồng và giấy tờ tùy thân của chị L. Bị cáo biết việc lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nhằm để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Trong thời gian tại ngoại điều tra bị cáo lại bỏ trốn, không chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của cơ quan điều tra. Buộc cơ quan điều tra phải ra Quyết định truy nã đối với bị cáo. Cho thấy bị cáo là người rất xem thường pháp luật.
. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, bản thân lại nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng.
. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh tre có kích thước 67 x 2,4 x 0.5 cm.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự, Dân sự theo quy định của pháp luật.
[9.]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01( Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2020.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Thanh T bồi thường cho bị hại Phạm Hồng L 20.000.000 đồng ( Hai mươi triệu đồng).
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Trả lại cho bị hại chị Phạm Hồng L 01 thanh tre có kích thước 67 x 2,4 x 0.5 cm ( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thanh T nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng ( Một triệu đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Long Hồ; -CC THADS huyện Long Hồ; -Công an huyện Long Hồ; -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ; -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long;
Võ Công Bằng -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; -UBND xã Đ-LH-VL; -Bị cáo; -Bị hại; -Lưu hồ sơ vụ án./. TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG HỒ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH VĨNH LONG Số: 02/2021/TB-TA
Long Hồ, ngày 11 tháng 01 năm 2021
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số 84/2020/HS-ST, ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long có sai sót trong khâu đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
1. Tại dòng thứ 19 từ trên xuống của trang 05 Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“…Trả lại cho bị hại chị Phạm Hồng Loan 01 thanh tre…”
2. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
“…Tịch thu tiêu hủy 01 thanh tre…”
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh Vĩnh Long; -VKSND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Long Hồ; -CC THADS huyện Long Hồ; -Công an huyện Long Hồ; -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ; -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long; -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; -UBND xã Thanh Đức-LH-VL; -Bị cáo; -Bị hại; -Lưu hồ sơ vụ án./. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Công Bằng |