- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thành L - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Mai Thành L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2020/HS-PT Ngày: 21-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư
Bà Lê Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16/9 và 21/9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2020/HSPT ngày 19 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo Mai Thành L.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Mai Thành L (tên gọi khác: Cu), sinh năm 1998 tại: Bình Phước; Nơi cư trú: Tổ 5, thôn 10, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Mai Văn C, sinh năm 1979 và bà Trần Thị Hồng C, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt từ ngày 21/12/2019 đến ngày 21/01/2020 được thay thế biên pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh và Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng những người này không kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 19/12/2019 Vũ Văn H nhận được điện thoại của người tên H (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 30 bịch pháo banh nhỏ. Sau đó H liên hệ với Phạm Văn D địa chỉ khu phố T, thị trấn T huyện B mua 30 bịch pháo banh nhỏ. H đã đưa trước cho D 1.000.000đ đến ngày 21/12/2019 D gọi điện thoại cho H đến nhận pháo. H điều kiển xe mô tô Wave biển số 29Z1-066.51 của Lê Thị H (mẹ bị cáo) đến gặp D lấy pháo. Do chưa đủ tiền trả nên H để xe lại cho D hẹn khi giao pháo lấy tiền trả cho D thì lấy xe. D đồng ý. Khi có pháo, H gọi điện thoại cho Mai Thành L tài xế xe taxi đến đón H cùng với số pháo H vừa mua về, L biết H mang theo pháo nhưng vẫn đồng ý chở để giao cho H nhưng sau đó H lại báo với H đem pháo giao ở xã L nên H yêu cầu L đi về xã L thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt giữ H, L và tang vật là 29 bịch pháo banh.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, H thừa nhận toàn bộ số pháo bị bắt là do mua của D và đang trên đường đi giao pháo cho H lấy lời, khi chưa giao được pháo bị bắt quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã đưa toàn bộ số pháo thu giữ giám định tại Viện khoa học hình sự - phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chi Minh.
Căn cứ kết luận giám định số: 539/C09B ngày 23/12/2019 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh nội dung như sau:
29 túi nylon chứa các vật hình cầu vỏ bằng nhựa (dạng ống quả bóng đá) đường kính 2cm có màu sắt khác nhau, trên đầu có gắn sợi dây màu xanh gửi đi giám định đều là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, Khối lượng 6,4kg.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước đã Tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Mai Thành L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Mai Thanh L 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày đi thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/12/2019 đến 21/01/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/7/2020 bị cáo Mai Thành L có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nhận định và xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm 61/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Mai Thành L được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã nhận định. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại cấp sơ thẩm bị cáo đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp, không nặng so với mức độ, hậu quả, hành vi mà bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và bị cáo là lao động chính trong gia đình, nội dung trên được chính quyền địa phương xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51. Đối chiều với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, do vậy bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục là đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hơn nữa, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo phải không chịu.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Mai Thành L.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.
Tuyên bố bị cáo Mai Thành L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Mai Thanh L 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (21/9/2020).
Giao bị cáo Mai Thành L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mai Thành L không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; (1) - TAND, VKSND huyện L; (2) - Chi cục THADS huyện L; (1) - Công an huyện L; (1) - UBND xã T, huyện B - Bị cáo; (1) - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Tổ nghiệp vụ; Lưu. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |