- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Ngọc T, cho anh Lê Ngọc T được ly hôn với chị Đào Thị Thùy T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2020/HNGĐ-ST Ngày 23-7-2020 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Ứng.
Ông Nguyễn Văn Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1986 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Chị Đào Thị Thùy T, sinh năm 1988 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Ngọc T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh T và chị Đào Thị Thùy T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2007. Mặc dù không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G,, tỉnh Tiền Giang (nay là huyện T, tỉnh Tiền Giang) vào ngày 11/12/2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm sau đó không được hạnh phúc nữa. Năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T không biết chăm lo kinh tế gia đình, không phụ giúp anh T chăm sóc, nuôi dạy con cái. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và kéo dài mà không hàn gắn được. Anh T và chị T đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị T.
- Về con chung: Anh T và chị T có 03 con chung là cháu Lê Ngọc Anh T1, sinh ngày 19/10/2007, cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 27/02/2010 và cháu Lê Ngọc Anh T2, sinh ngày 25/4/2014. Hiện tại, cả 03 cháu đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 cháu và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh T không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn chị Đào Thị Thùy T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng chị T không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn chị T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Lê Ngọc T yêu cầu ly hôn với chị Đào Thị Thùy T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Đào Thị Thùy T có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị Đào Thị Thùy T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị T.
Về hôn nhân: Anh T và chị T chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 11/12/2007 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống, giữa anh T và chị T xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng chị T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ chị T không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa chị với anh T.
Thấy rằng, giữa anh T và chị T không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa anh T và chị T đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh T và chị T có 03 con chung là cháu Lê Ngọc Anh T1, sinh ngày 19/10/2007, cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 27/02/2010 và cháu Lê Ngọc Anh T2, sinh ngày 25/4/2014. Hiện tại, cả 03 cháu đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho chị T trong đó có nêu rõ yêu cầu về con chung của anh T, nhưng chị T không thể hiện ý kiến của mình đối với việc nuôi con chung.
Do chị T vắng mặt nên không có sự thỏa thuận với anh T về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của các cháu nên cần thiết giao cháu T1, cháu C và cháu T2 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng; điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Thơ và cháu Châu là được sống với anh T. Nếu sau này chị T và anh T có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày anh và chị T không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Ngọc T, cho anh Lê Ngọc T được ly hôn với chị Đào Thị Thùy T.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Anh T1, sinh ngày 19/10/2007, cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 27/02/2010 và cháu Lê Ngọc Anh T2, sinh ngày 25/4/2014 cho anh T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
3. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 49317 ngày 05/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, nên anh T đã nộp xong án phí.
Chị T không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Chị T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phú Đông; - Chi cục THADS huyện Tân Phú Đông; - UBND xã T; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |