- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án 84 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2019/HSST Ngày 02 tháng 5 năm 2019 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Kim Vinh
2. Ông Phạm Xuân Đệ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền -
là thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn §èng §a, Hµ Néi tham gia
phiªn toµ: Bà Trần Thị Hồng Nhung - KiÓm s¸t viªn.
Trong ngày 02 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2019/HSST ngày 16/4/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2019/QĐXXST – HS ngày 18/4/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Th – Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1986; giới tính: nữ; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Kim Thành, xã Th S, huyện Th Th, tỉnh Th B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Sơn và bà Nguyễn Thị Nguyền; Chồng: Phạm Văn Th (chưa đăng ký kết hôn); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số: 171, lập ngày 22/01/2019 tại Công an quận Đống Đa; Bắt người phạm tội quả tang ngảy 17/01/2019, Quyết định trả tự do ngày 18/01/2019; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 29/01/2019. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 ngày 17/01/2019, tại khu vực trước nhà số 98, ngõ Xã Đàn 2, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, hà Nội, tổ công tác Công an phường Nam Đồng đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thị Th. Trong quá trình kiểm tra, Th đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 túi nilon màu trắng, đen, kích thước 03cmx04xm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 734/KLGĐ-PC09 ngày 24/01/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,483 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: khoảng 16 giờ ngày 17/02/2019, Nguyễn Thị Th đi đến khu vực ngách 96, ngõ Xã Đàn 2, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Th đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết số ma túy trên với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Th cầm túi ma túy trong lòng bàn tay trái của mình rồi đi bộ để tìm nơi sử dụng. Khi Th đi đến khu vực trước nhà số 98, ngõ Xã Đàn 2 thì bị tổ công tác Công an phường Nam Đồng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Th, Th khai không biết cụ thể họ tên, địa chỉ do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Bản cáo trạng số 86 ngày 03/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Xử phạt: Nguyễn Thị Th từ 34 đến 38 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 2,483 gam Methamphetamin. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động NOKIA.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận cũng như ý kiến bào chữa. Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng thu được trong vụ án, đồng thời căn cứ vào kết luận giám định số 734/KLGĐ-PC54 ngày 24/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, đủ cơ sở kết luận: khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/01/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 98 ngõ Xã Đàn 2, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, Nguyễn Thị Th đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,483gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Th phạm vào tội Tàng tữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo theo quy định điểm c kho¶n 1 §iÒu 249 Bé luËt h×nh sù là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Tính chất vụ án là nghiệm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm, tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Bị cáo là một thanh niên đã trưởng thành, nhưng không chịu tu chí làm ăn mà lại đua đòi ham chơi, Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý vì vậy cần phải xử lý bị cáo Th nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập.Vì vậy. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Thị Th và giám định viên Lê Khắc Nam bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,483 gam.
Đối với chiếc điện thoại di động Nokia 2 màu đen tạm giữ của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn.
QuyÕt ®Þnh
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng: - Điểm c khoản 1Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Các Điều 106; 136; 298; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Thị Th và giám định viên Lê Khắc Nam bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,438 gam.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Th 01 điện thoại di động Nokia 2 màu đen. (tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 136 ngày 05/4/2019 của chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa).
Bị cáo Nguyễn Thị Th phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. N¬i nhËn
| - TAND thµnh phè Hµ Néi. - VKSND quËn §èng §a. - BÞ c¸o. - L u. | Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn (đã ký) Đặng Thị Hường |