- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Văn T ph m tội: Trộm cắp tài sản.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 84/2019/HSST Ngày: 15/8/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Cương; ông Lò Văn Thôn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy, thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2019, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 79/2019/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định xét xử số 77/HSST-QĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Bản Phiêng X, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Lò Văn L; còn bà: Lò Thị P; vợ là: Lò Thị H, có 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2012 bị TAND huyện Sông Mã xử phát 12 tháng tù, nhưng cho hư ng án treo về tội Trộm cắp tài sản (đã được xoá án tích); được t i ngo i, cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt t i phiên toà.
Người bị hại:
1. Chi Vì Thị C SN 1986. Trú tai: bản Phiêng X, Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
2. Trư ng trường mầm non A, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Đ i diện bà Bà Nguyễn Thị S - Hiệu trư ng. Có Mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ v án, thì nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 29/3/2019, sau khi ăn cơm xong Lò Văn T lấy chiếc đèn pin (lo i đội lên đầu), 01 con dao nhọn và một túi đeo làm bằng bao phân lân N.P.K rồi đi soi bắt ếch và lươn. Khi T tìm soi đến sát bờ tường trường mầm non A xã Chiềng S, Sông Mã thì nảy sinh ý định vào trường để trộm cắp tài sản. T tắt đèn pin và trèo qua tường vào trường, Tuấn đi đến dãy nhà đầu tiên gồm bốn phòng, qua ánh điện trong trường Tuấn nhìn qua các ô cửa kính thấy trên mặt bàn phòng thứ hai đặt sát tường có chiếc Ti Vi. Tuấn đi ra đầu hồi nhìn về phía phòng bảo vệ thì thấy cửa khóa ngoài nên Tuấn biết bảo vệ không trường. Tuấn quay l i cửa phòng có chiếc Ti Vi, lấy con dao nhọn đem theo dùng sống dao đập m nh hai phát vào ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp làm ổ khóa bung ra, T lấy ổ khóa ra khỏi chốt và ném qua bờ tường ra đám ruộng bên c nh, T vào trong phòng lấy đi chiếc ti vi nhãn hiệu Asano lo i 32 inch màu đen, viền màu b c cùng chiếc điều khiển (là tài sản riêng của cô giáo Vì Thị C mang đến lớp để ph c v công tác giảng d y), sau đó T tẩu thoát theo đường cũ mang chiếc Ti Vi trộm cắp được về sử d ng.
Ngày 01/4/2019 ông Lò Văn H là bảo vệ trường mầm non A phát hiện t i lớp của cô giáo Vì Thị C bị kẻ gian phá khóa vào lấy trộm chiếc ti vi nên ông H đã đi tìm. Ngày 03/4/2019 ông H phát hiện t i nhà của Lò Văn T có chiếc ti vi có đặc điểm giống với chiếc ti vi đã bị mất của chị C nên đã có đơn trình báo đến Ban Công an xã Chiềng S. Cùng ngày, Ban Công an xã Chiềng S tiến hành xác minh, t m giữ chiếc ti vi nhãn hiệu Asano t i nhà T, Tuấn khai nhận chiếc ti vi đó do Tuấn mua của anh Trần Đức Bh bản Quảng T, Chiềng S. Tiến hành xác minh lời khai của T không đúng sự thật, T tiếp t c khai nhận chiếc ti vi trên là do tối ngày 29/3/2019 Lường Văn N SN 1994, bản C, Chiềng S đến nhà Tuấn để hỏi số tiền 400.000 đồng T nợ, nhưng T nói chưa có và mời N l i ăn cơm cùng, trong lúc ăn cơm, uống rượu T bảo N đi lấy trộm chiếc ti vi trường mầm non A về cho T thì N đồng ý. Sau khi ăn cơm xong N đi bộ đến trường lấy trộm chiếc ti vi trên về nhà T, T trả cho N số tiền 400.000 đồng.
Ngày 24/4/2019 Lường Văn N đang làm thuê t i tỉnh Thái Bình nghe tin về việc T khai N tham gia trộm cắp tài sản nên N đã về nhà để chứng minh lời khai của T là không đúng sự thật. Ngay sau khi Lò Văn T biết N về địa phương T đã thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội của bản thân.
T i bản Kết luận giám định số 35/KL ngày 12/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Sông Mã, kết luận: “01 (một) chiếc TV nhãn hiệu ASANO loại 32 inch màu đen, có viền mép dưới màn hình màu bạc, số mã vạch sau chiếc tivi: 190132EK15026 (có điều khiển tivi nhãn hiệu ASANO màu đen kèm theo), ti vi đã qua sử dụng, giá trị: 3.360.000 đồng. Tổng giá trị: 3.360.000 đồng, bằng chữ: Ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn”.
Do có hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, Lò Văn T bị kh i tố và bị truy tố về hình sự.
Đối với chiếc ti vi nhãn hiệu ASANO, lo i 32 inch, kèm theo điều khiển ngày 04/4/2019 Ban Công an xã Chiềng S, Sông Mã đã trả l i cho chủ s hữu là chị Vì Thị C.
Vấn đề dân sự: chị Vì Thị C đã nhận l i tài sản nên không có đề nghị, yêu cầu gì thêm.
Cáo tr ng số 79/CT-VKSSM ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Lò Văn T về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Lò Văn T ph m tội Trộm cắp tài sản. Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 09 đến 15 tháng Cải t o không giữ. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú theo dõi, giáo d c theo quy định.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra t i phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên toà, trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị h i cùng các chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới; lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh của bản cáo tr ng; lời khai của bị cáo cũng phù hợp lời khai của người bị h i, vật chứng bị thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án.
Bị cáo đã lén lút chiếm đo t tài sản của người khác, tài sản bị cáo chiếm đo t có giá trị (theo kết luận định giá là 3.360.000 đồng). Như vậy, có cơ s để kết luận: Lò Văn T đã ph m tội Trộm cắp tài sản, tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố của Viện Kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm h i quyền s hữu tài sản của người khác. Gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, gây bức xúc tình hình địa phương. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi tội ph m xảy ra tài sản đã được thu hồi trả l i cho người bị h i. T i phiên toà, người bị h i không có yêu cầu gì thêm và có ý kiến xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Xét thấy, đây là tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định cần áp d ng cho bị cáo được hư ng; và cũng không nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần cho bị cáo cải t o, giáo d c t i địa phương cũng đảm bảo tính giáo d c, phòng ngừa.
Đối với hành vi của Lò Văn T khai báo gian dối, vu khống cho Lường Văn N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã có đủ yếu tố cấu thành tội "Vu khống" quy định t i Điều 156 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên ngày 24/4/2019 Lường Văn N có đơn đề nghị không kh i tố đối với hành vi trên của Lò Văn T nên cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã xem xét, không kh i tố T về tội Vu khống là có căn cứ theo quy định t i khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự.
Tiến hành truy tìm vật chứng là ổ khóa bị mất trong bán kính 200m, nhưng không truy tìm được. Do bị h i không có yêu cầu bồi thường nên không đặt vấn đề giải quyết trong v án.
Vật chứng v án: Gồm 01 (một) con dao nhọn có phần lưỡi làm bằng kim lo i dài 23cm, phần rộng nhất 04 cm, phần cán bằng nhựa màu trắng dài 10 cm, đã qua sử d ng; 01 (một) chiếc túi đeo được làm bằng vỏ bao phân N.P.K màu trắng sau khi cắt được may bằng tay là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về dân sự: Các bị h i không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên buộc bị cáo phải khấu trừ thu nhập, dựa trên ngày công lao động phổ thông nông nghiệp t i địa phương. C thể: 2.000.000đ x 5% = 100.000đ, buộc bị cáo phải thi hành.
Bị cáo đã bị khấu trừ thu nhập và có hoàn cảnh khó khăn nên miễn ph t bổ sung là (ph t tiền) cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Lò Văn T ph m tội: Trộm cắp tài sản.
1. Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử ph t: Lò Văn T 12 (mười hai) tháng cải t o không giam giữ. Thời gian cải t o không giam giữ tính từ ngày UBND xã Chiềng S, huyện Sông Mã nhận được Quyết định thi hành án cải t o không giam giữ và bản án của Toà án.
Khấu trừ thu nhập bị cáo: 100.000đ/tháng. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng, (trong thời h n 12 tháng), kể từ ngày bị cáo nhận được Quyết định thi hành án cải t o không giam giữ và bản án của Toà án.
Giao bị cáo cho UBND xã Chiềng S, huyện Sông Mã giám sát, giáo d c trong thời gian chấp hành án.
2. Vật chứng: Áp d ng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao nhọn, phần lưỡi làm bằng kim lo i dài 23cm, phần rộng nhất 04 cm, phần cán bằng nhựa màu trắng dài 10 cm, đã qua sử d ng và 01 (một) chiếc túi đeo được làm bằng vỏ bao phân N.P.K màu trắng, sau khi cắt được may bằng tay, đã qua sử d ng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2018 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về dân sự: Không đặt ra.
4. Án phí: Áp d ng Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo; người bị h i; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La ; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người bị hại; - UBND xã Chiềng S; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lƣờng Văn Quyết |