- Tranh chấp gì? án hình sự — "đặng quốc H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Quốc H (tên gọi khác: T) và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2019/HS-PT Ngày 06 tháng 8 năm 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Trung Thành;
- Bà Bùi Thị Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhơn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 89/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo Đặng Quốc H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Đặng Quốc H (tên gọi khác: T), sinh năm: 1980, tại Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 40E LS, phường PH, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: BT02, Lô 18 A, Khu đô thị PL, phường PL, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn T và bà Lâm Kim Th; có vợ và hai con sinh năm 2012 và 2015;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 19 tháng 6 năm 1995, bị Công an phường PH xử phạt cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng;
- Ngày 25 tháng 9 năm 1995, bị Công an phường PH, thành phố NT áp dụng biện pháp cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 12 tháng 6 năm 1998, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 06 (sáu) tháng theo Quyết định số 406/QĐ/GD của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường PH;
- Ngày 28 tháng 10 năm 2000, bị Công an phường PH, thành phố NT xử phạt hành chính số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng) về hành vi gây rối trật tự công cộng;
- Ngày 27 tháng 11 năm 2000, bị Công an phường PH phạt cảnh cáo về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có;
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 190/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt Đặng Quốc H 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định Điểm d Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18 tháng 02 năm 2006; chấp hành xong các quyết định khác của bản án ngày 13 tháng 01 năm 2005;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 7 năm 2018, Đặng Quốc H điều khiển xe mô tô biển số 79N2-431.88 chở Nguyễn Thị Thanh H1 đến thuê phòng 202 tại nhà nghỉ BM, địa chỉ thôn PAM2, xã DA, huyện DK, tỉnh Khánh Hòa do bà Huỳnh Thị Ngọc Y làm chủ để nghỉ. Khoảng 07 giờ 40 phút sáng cùng ngày, H thức dậy để đi về trước. Trong lúc gọi chủ nhà nghỉ để trả tiền phòng nhưng không ai trả lời, H quan sát thấy trong phòng bếp của nhà nghỉ có điện thoại di động Iphone X màu trắng để ở trên bàn nên đã lén lút vào phòng bếp lấy điện thoại này và lấy trong ví da màu đen để ở dưới bàn số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi lấy được tài sản, H cất điện thoại vào cốp xe, cất 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô về NT.
Qua kiểm tra camera, bà Y xác định H là người trộm cắp tài sản nên đã trình báo Cơ quan Công an.
Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày H đến Cơ quan Công an huyện Diên Khánh đầu thú và giao nộp tài sản trộm cắp gồm 01 điện thoại Iphone X và 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS của Ủy ban nhân dân huyện DK kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kiểu dáng Iphone X 64Gb màu trắng, số IMEI 359404084264846 có giá trị 24.750.000đ (hai mươi tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 08 tháng 11 năm 2018, bị cáo Đặng Quốc H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm mức hình phạt cho bị cáo với lý do: mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và phải nuôi hai con nhỏ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Quốc H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo Đặng Quốc H kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại phòng bếp của nhà nghỉ BM, địa chỉ thôn PAN 2, xã DA, huyện DK, tỉnh Khánh Hòa, Đặng Quốc H đã có hành vi trộm cắp một điện thoại Iphone X trị giá 24.750.000đ (hai mươi tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) của bà Huỳnh Thị Ngọc Y. Với hành vi bị cáo đã thực hiện, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe, có việc làm ổn định, đã từng bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” và đã từng nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính về các hành vi: Trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo mức án 09 (chín) tháng tù và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo là phù hợp, đã xem xét đầy đủ về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm, tuy bị cáo trình bày lý do bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo phải nuôi hai con nhỏ sinh năm 2012 và 2015 và mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng, nhưng những lý do bị cáo nêu là không có căn cứ và bị cáo không phải là lao động chính duy nhất trong gia đình bị cáo nên cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[ 4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; Điểm a Khoản 1 và Khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Quốc H (tên gọi khác: T) và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
2. Bị cáo Đặng Quốc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 06 tháng 8 năm 2019).
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - TAND huyện Diên Khánh; - VKSND huyện Diên Khánh; - Công an huyện Diên Khánh; - Chi cục THADS H. Diên Khánh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Anh |