- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn A và bà Kim Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 14 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 84/2019/HNGĐ-ST Ngày 28/8/2019. Về việc: “TrA chấp về Ly hôn” |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô ThA Ngọc Cảnh
2. Bà Lê Thị Thường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh; Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên tòa: Không tham gia.
Vào ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện Hôn nhân gia đình thụ lý số 174/2019/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2019; Về việc: "TrA chấp về Ly hôn", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn A, sinh năm 1976;
Nơi cư trú: Ấp V, xã K, huyện TS, An Giang.
2. Bị đơn: Bà Kim Thị P, sinh năm 1968;
Nơi cư trú: Ấp V, xã K, huyện TS, An Giang.
(Vắng mặt bị đơn bà Kim Thị P; Đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn A và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Ông Trần Văn A và bà Kim Thị P tự tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2008, không có tổ chức đám cưới và đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, vợ chồng sống hạnh phúc và có được 01 con chung tên Trần A Quốc sinh ngày 15/9/2009 và hiện tại con đang sống chung với bà Kim Thị P. Tuy nhiên, cũng từ thời gian này thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, do tính tình không còn phù hợp nhau nên đã sống ly thân cho đến nay.
Nay ông Trần Văn A yêu cầu được ly hôn với bà Kim Thị P; Về con chung đồng ý giao cho bà Kim Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mà không trA chấp; Về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về phía bị đơn bà Kim Thị P thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng nhiều lần bà Kim Thị P đã vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ thì xác định rằng bà Kim Thị P có hộ khẩu thường trú tại ấp Vĩnh Thành, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, An Giang; Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ kiện thì bà P vẫn đang có mặt tại địa phương, các giấy tờ của Tòa án tống đạt thông qua Thừa phát lại thì gia đình đều ký nhận nhưng vẫn không có mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua trA luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là trA chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa bị đơn bà Kim Thị P đã vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn A đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng từ năm 2008 và cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên ông Trần Văn A xin được ly hôn với bà Kim Thị P. Theo khoản 1 Điều 14 luật Hôn nhân gia đình 2014 có quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng…”; Cũng tại khoản 2 Điều 53 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này”. Như vậy, mặc dù ông Trần Văn A và bà Kim Thị P đã sống chung với nhau trong một thời gian dài và đã có con chung nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên việc ông A yêu cầu ly hôn với bà P là không phù hợp mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn A và bà Kim Thị P.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng và tài sản: Do ông Trần Văn A không trA chấp và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do ông Trần Văn A có yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 14, Điều 15, Điều 53; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn A và bà Kim Thị P.
* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng và tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Ông Trần Văn A phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo phiếu thu số 0000137 ngày 23/4/2019 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang; Được khấu trừ nên ông Trần Văn A đã nộp xong.
Báo cho đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang. - VKSND H.Thoại Sơn. - Chi cục THADS H.Thoại Sơn. - UBND xã Vĩnh Khánh. - Các đương sự (Để thi hành). - Lưu văn phòng. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |