- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án N và T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 22/7/2019. Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thanh Bình
2. Bà Phạm Hồng Gái
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 228/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2019 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 2000 (có mặt).
Địa chỉ: tổ 14, khu phố Tri Tôn, thị trấn Hòn Đất, huyện HĐ, tỉnh KG.
2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, huyện HĐ, tỉnh KG.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy N trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn N T tự tìm hiểu yêu thương nhau và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào tháng 2 năm 2017, anh chị chung sống với nhau từ đó nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn với nhau. Sau một hơn một năm chung sống thì giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn, do anh T thay đổi tính tình, thường xuyên đi chơi không lo lắng gì cho gia đình, nhiều lần còn tìm cớ đánh đập chị N. Đến tháng 3 năm 2019 thì chị N bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và anh chị cũng ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt mục đích nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị N và anh T có 01 người con chung là tên là Nguyễn Văn Phú, sinh ngày 25/11/2017. Hiện tại chị N đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
* Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không công nhận mối quan hệ giữa chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng. Về con chung: giao cháu Nguyễn Văn Phú, sinh ngày 25/11/2017 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày không có tài sản chung và không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thẩm quyền: Đối với tranh chấp về hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn T. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị anh Nguyễn Văn T nhưng bị đơn vẫn vắng mặt đến lần thứ hai. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017, tuy gia đình hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn và chưa được cơ quan có thẩm quyền nào cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Việc này đã vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: …1.“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý…”.
Như vậy việc chị N và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T không có giá trị pháp lý và không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Mặt khác, qua quá trình làm việc tại Tòa án chị N trình bày sau khi chung sống với nhau một thời gian thì giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn, hiện tại chị và anh T đã sống ly thân với nhau và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Do đó việc chị N yêu cầu HĐXX không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa chị và T là vợ chồng là có cơ sở để HĐXX xem xét chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị N trình bày giữa chị và anh T có 01 người con chung tên Nguyễn Văn Phú, sinh ngày 25/11/2017. Từ trước đến nay chị N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phú. Ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. HĐXX nhận thấy việc chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là có cơ sở để được chấp nhận. Bỡi lẽ, cháu Phú sinh ngày 25/11/2017 tính đến thời điểm hiện tại thì cháu Phú chưa tròn hai tuổi, cháu Phú còn nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc chu đáo của người mẹ. Do đó, việc giao con chung cho chị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp đối với sự phát triển về mặt tâm sinh lý đối với cháu sau này.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị N không yêu cầu nên HĐXX miễn xét.
Về tài sản chung: Chị N trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX miễn xét.
Về nợ chung: Chị N trình bày không có nợ ai hoặc cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX miễn xét.
Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có cơ sở để được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án.
Về án phí hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên Xử:
1/. Về hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng.
2/. Về con chung : Giao cháu Nguyễn Văn Phú, sinh ngày 25/11/2017 cho chị Nguyễn Thị Thúy N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn T có quyền được thăm nom , chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.
3/. Về tài sản chung và nợ chung : Chị N trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.
4/. Về án phi hôn nhân gia đình sơ thẩm : Chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án
́ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộ p theo biên lai thu tiền số 0002300 ngày 25/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Nguyễn Thị Thúy N không phải nô ̣p thêm.
5/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKS huyện Hòn Đất; - Chi cục THADS huyện Hòn Đất; - Đương sự; UBND xã; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn An |