vanban.org

Bản án 84/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị T - Phạm Thái Ngh"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 11 – 6 – 2019
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hành

Ông Nguyễn Văn Sol

-Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.

Ngày 11 tháng 6 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2018. Về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1977(Có mặt).

- Bị đơn: Anh Phan Thái Ngh, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2019 và các lời khai tại Tòa án, tại phiên tòa chị Ngô Thị T (Nguyên đơn) trình bày:

- Về hôn nhân: Chị T và anh Ngh chung sống với nhau năm 2000 không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến không hòa thuận, vợ chồng thường hay cự cải nhau. Gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2017 đến nay. Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Ngh.

- Về con chung: Chị T và anh Ngh có 02 người con chung tên Phan Thái Duy, sinh ngày 16/7/2002 và Phan Thúy Vi, sinh ngày 20/10/2009. Hiện nay 02 con đang sống chung với chị T từ năm 2017 cho đến nay. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, chi T không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị T xác định trong thời gian chung sống chị và anh Ngh không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị T xác định trong thời gian chung sống chị và anh Ngh không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phan Thái Ngh, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho anh Ngh biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 11/3/2019 nhưng anh Ngh không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ anh Ngh để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh Ngh không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị T. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Ngh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Ngh theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi Nghên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa chị T và anh Ngh là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Ngh có địa chỉ tại ấp Bào Kè, xã Lương Thế Trân, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Phan Thái Ngh xác lập quan hệ hôn nhân năm 2000 không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của chị T và anh Ngh không được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/QH-NQ 10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ của chị T và anh Ngh là vợ chồng.

Về con chung: Chị T và anh Ngh có 02 người con chung tên Phan Thái Duy, sinh ngày 16/7/2002 và Phan Thúy Vi, sinh ngày 20/10/2009. Xét thấy, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Ngh không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T, chứng tỏ anh Ngh đồng ý với yêu cầu của chị T. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị T, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu Thái Duy và cháu Thúy Vi được thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 02/5/2019. Do đó, tiếp tục giao cháu Thái Duy và cháu Thúy Vi cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Ngh không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị T xác định trong thời gian chị T và anh Ngh chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Anh Ngh vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Caùc Đieàu 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 110 Luaät hoân nhaân vaø gia ñình naêm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû:

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của chị Ngô Thị T và anh Phan Thái Ngh là vợ chồng.

- Về con chung: Giao cháu Phan Thái Duy, sinh ngày 16/7/2002 và Phan Thúy Vi, sinh ngày 20/10/2009 cho chị Ngô Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phan Thái Ngh không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí hoân nhaân vaø gia ñình sô thaåm:

Chị Ngô Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Chị T có dự nộp số T tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu T số 0005208 ngày 11/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Ngh không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tựDự thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ngh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nôi göûi:

Cỡ chữ