- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Kim Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Kim Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2018/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đức Hạnh
Ông Tạ Văn Đức.
-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duẩn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Kim Đình Đ, sinh ngày 25/5/1996; Nơi sinh và cư trú: Thôn Y4, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Đình B, sinh năm 1963 và bà Phùng Thị H, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không;
Tiền sự: Có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 28/5/2018, Công an huyện Yên Lạc xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2018 đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo:
+ Ông Lê Văn Duy - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Địa chỉ: Đường Phạm Văn Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Ông Chu Đông - Luật sư Văn phòng Luật sư Chu Đông, Đoàn luật sư thành phố HN (vắng mặt).
Địa chỉ: Phòng 111, B16 tập thể K, phường K, quận Đ, thành phố HN.
- Bị hại: Anh Lưu Minh P, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 27/9/2018, Kim Đình Đ đi bộ đến bãi xe ô tô T thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Đ nhìn thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 88F1-184.XX dựng ở lề đường trước bãi đỗ xe, không có người trông giữ, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đ lại gần ngồi lên xe mở khóa điện rồi điều khiển xe về hướng đường tránh thành phố V, đến khu vực vòng xuyến rẽ phải về hướng đi HN được khoảng 200m thì bị anh Lưu Minh P và anh Nguyễn Quốc V đuổi kịp cùng nhân dân bắt giữ. Nhận được tin báo Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 88F1-184.XX.
Tại kết luận định giá số: 57/2018/KL-ĐG ngày 04/10/2018, hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Lạc kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 88F1-184.XX; số máy 3S31-057388; số khung S3106Y057388 trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng chẵn).
Ngày 29/10/2018 Cơ quan điều tra trả cho anh Lưu Minh P chiếc xe mô tô trên, nhận lại tài sản anh P không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 14/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố Kim Đình Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo Đ từ 07 tháng đến 09 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất và miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 27/9/2018, tại khu vực bãi để xe ô tô T ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, lợi dụng sơ hở Kim Đình Đ đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biểm kiểm soát 88F1- 184.XX của anh Lưu Minh P tài sản trị giá 6.000.000 đồng. Hành vi của Kim Đình Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án, phù hợp lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Kim Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Kim Đình Đ, sinh năm 1996 năm nay 22 tuổi, là người phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, khi thấy có cơ hội là tiếp tục phạm tội. Lẽ ra phải phạt bị cáo với mức án cao song xét thấy ở Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo Đ trộm cắp của anh P, Cơ quan điều tra đã trả cho anh Lưu Minh P chiếc xe mô tô, nhận lại tài sản anh P không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Kim Đình Đ thuộc hộ cận nghèo, được Uỷ ban nhân dân xã Đ chứng nhận. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Kim Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Kim Đình Đ 07 (Bảy) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/9/2018.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Kim Đình Đ.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lạc; - Công an huyện Yên Lạc; - Trại tạm giam; - UBND xã Đ, huyện Y. - Bị cáo + Những người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh |