- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Yến N - Mạc Quốc H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Yến N. Chị N được ly hôn với anh Mạc Quốc H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2018/HNGĐ-ST Ngày: 14/9/2018 V/v: “Ly hôn và con chung ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Tấn Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Mỹ Ngọc
2. Bà Nguyễn Thị Yến Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018, về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 593/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến N - sinh năm 1991; địa chỉ đường Đ, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
* Bị đơn: Anh Mạc Quốc H - sinh năm 1984; địa chỉ đường Đ, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/6/2018, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Nguyễn Thị Yến N trình bày:
Chị và anh Mạc Quốc H sau khi tìm hiểu được một thời gian rồi đi hôn nhân, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố V vào ngày 05/5/2014. Sau khi cưới nhau, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng đến 2014 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh H sống không chung thủy, không lo kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm nay. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh H. Về con chung, có một con chung tên Mạc Yến V, sinh ngày 06/10/2014, hiện đang sống chung với chị N, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Mạc Quốc H được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử, nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn và nuôi con đối với bị đơn có địa chỉ tại thành phố Vĩnh Long; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn và nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn Mạc Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa lần thứ hai nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không lý do; cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N, Hội đồng xét xử thấy: Chị và anh H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống không phù hợp, vợ chồng không còn yêu thương nhau, tình cảm bị rạn nứt; xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh H mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh H là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị N và anh H có một con chung tên Mạc Yến V, sinh ngày 06/10/2014; chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nhưng anh H không có ý kiến phản đối. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân thì cháu V được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo, còn anh H không đến thăm nom, cấp dưỡng cho cháu V; vả lại, cháu V là con gái cho nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, do đó, để đảm bảo về vật chất lẫn tinh thần cho cháu V, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị N là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Yến N. Chị N được ly hôn với anh Mạc Quốc H.
2. Về con chung: Giao con chung tên Mạc Yến V, sinh ngày 06/10/2014 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng; chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.
Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Yến N nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003410, ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, chị N đã nộp đủ không phải nộp thêm.
Báo cho nguyên đơn biết, được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL; - VKSND cùng cấp; - Chi cục THA TPVL; - Các đ/s. - Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố V; - Lưu: VT,… | Võ Tấn Thành |