- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 84/2017/HSST Ngày 21-7-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung – Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Trung tâm văn hoá xã Bạch Đằng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2017/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 84/2017/HSST-QĐ ngày 06 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Đỗ Hữu Hoàng L (tên gọi khác C), sinh năm 1986, tại An Giang; nơi ĐKNKTT: Ấp T, thị trấn L, huyện M, tỉnh An Giang; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá 02/12; tiền án, tiền sự: Không; con ông Đỗ Hữu N, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958; bị cáo chƣa có vợ con; bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2017 cho đến nay; có mặt.
Người bị hại: Ông Trần Quang T, sinh năm 1984; địa chỉ thƣờng trú: Thôn 7, xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Đỗ Hữu Hoàng L, Hồ Văn N, Lê Ngọc X và Nguyễn Văn K là thợ sơn nƣớc. Trần Quang T và Phan Văn Y là thợ điện. L, N, K, T và Y cùng làm cho công trình xây dựng nhà của ông Phạm Quốc D tại ấp AC, xã BĐ, thị xã TU, tỉnh Bình Dƣơng. Khi làm việc tại đây thì nhóm của L xảy ra mâu thuẫn với nhóm của T vì nhóm của L nói với ông D là nhóm thợ sơn nƣớc thi công cẩu thả, không đạt chất lƣợng.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 19/9/2016, L, N, L, K uống bia tại quán của bà Phạm Thị Hồng G tại ấp TT, xã BĐ, thị xã TU, Bình Dƣơng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày thì K và L không tiếp tục uống bia mà về phòng trọ nghỉ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì T, L đến quán bà G để ăn cơm. Do có mâu thuẫn từ trƣớc nên X đi bộ đến phòng trọ của L kêu L ra gặp để nói chuyện với T và Y. Khi vào phòng trọ của L thì X nói “Anh đi ra nói chuyện với thằng thợ điện để mai mốt dễ giao nhà”, nghe vậy L đi ra gặp T, Y. L đi đến quán bà G và đứng đối diện với T khi đó T đang ngồi ăn cơm và nói “Việc của thợ điện thì thợ điện làm, việc của sơn nƣớc thì sơn nƣớc làm sao mày lại nói xấu với chủ nhà”, T trả lời “Tôi không có nói”. Nghe vậy, L nói tiếp “Tôi đứng lăn sơn ở ngoài, tôi nghe mà sao nói không có nói”, T đứng dậy trả lời “Tao nói vậy đó, ý mày thì sao”. Lúc này, L lấy cái ghế nhựa tại quán của bà G đánh T nhƣng T dùng tay đỡ nên không bị thƣơng tích. N, X thấy vậy cũng xông vào hỗ trợ cho L đánh T. N lấy cái ghế nhựa đánh T nhƣng T bỏ chạy vào bếp của nhà G và nhặt lấy con dao Thái Lan dài 20 cm để tự vệ và tiếp tục chạy vào đƣờng hẻm cụt bên hông nhà bà G. Lúc này, N lấy con dao dài 36 cm, cán dao bằng gỗ, lƣỡi dao bằng kim loại dùng để chặt dừa ở trong quán của bà G chạy bộ đuổi theo T. L và X cũng chạy theo phía sau N. Do đây là hẻm cụt nên khi chạy đến cuối đƣờng thì T dừng lại và leo qua hàng rào B40 để chạy thoát nhƣng T bị té ngã nằm xuống đất với tƣ thế nằm nghiêng sang phải. Ngay lúc đó, N, X, L đuổi đến vị trí T té ngã, N đƣa dao lên chém T thì T nhìn thấy nên đƣa tay lên đỡ thì bị N chém trúng vào bàn tay trái gây thƣơng tích, N tiếp tục dùng chân đạp vào ngƣời T. X đứng cạnh thấy vậy nên giật lấy con dao của N rồi chém 01(một) nhát trúng vào gối chân trái của T gây thƣơng tích, còn L nhặt đoạn cây tầm vông khô cạnh đó đánh vào vùng vai và lƣng của T 03 – 04 cái. Bị đánh, T lên tiếng van xin X, N, L đừng đánh nữa nhƣng N, X tiếp tục dùng chân đạp vào ngƣời T. Lúc này, ông Phan Văn Y chạy đến can ngăn thì N, X, L ngừng đánh T và rời khỏi hiện trƣờng. Riêng T thì đƣợc ông L đƣa đến Trung tâm y tế thị xã TU cấp cứu và điều trị vết thƣơng. Nhìn thấy đánh nhau nên ông Đặng Văn S đến Công an xã BĐ, thị xã TU trình báo sự việc. Công an xã BĐ lập hồ sơ ban đầu chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU thụ lý theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã TU tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng và thu giữ: 01 (một) khúc cây gỗ rừng có dính máu, 01 (một) con dao Thái Lan có dính máu trên cán dao, 01 (Một) con dao kích thƣớc 36 x 06 cm, cán cây, lƣỡi sắt có dính máu. Đồng thời tiến hành truy tìm vật chứng và thu giữ: 01 (một) đoạn cây tre tầm vông dài khoảng 69 cm đƣờng kính 02 cm.
Ngày 24/10/2016, ông Trần Quang T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 379/2016/GĐPY ngày 28/10/2016 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng xác định: Trần Quang T có thƣơng tích: Vết thƣơng gối trái 13 x 0,4 cm thấu khớp, đứt gân bánh chè trái + dây chằng bên trái đã phẫu thuật khâu đính nơi bám gân bánh chè + dây chằng bên trái, sẹo lành, còn hạn chế gấp gối trái trong khoảng 00 - 1250. Gãy hở xƣơng bàn ngón I bàn tay trái, đã phẫu thuật kết hợp xƣơng bàn sẹo lành, còn hạn chế vận động ngón I bàn tay trái. Vết thƣơng ngón II bàn tay trái 04 x 0,2 cm, xẹo lành. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 26% (hai mƣơi sáu phần trăm).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y của Trung tâm giám định pháp y nêu trên.
Đối với bị can Hồ Văn N và Lê Ngọc X hiện nay bỏ trốn, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU đã ra Quyết định truy nã, khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý sau.
Về dân sự: Ông Trần Quang T yêu cầu bồi thƣờng tổng số tiền 65.000.000 (sáu mƣơi lăm triệu) đồng bao gồm: Chi phí điều trị thƣơng tích là 35.000.000 đồng (ba mƣơi lăm triệu) đồng, thiệt hại ngày công lao động do phải điều trị thƣơng tích và tổn thất tinh thần là 30.000.000 (ba mƣơi triệu) đồng.
Bản Cáo trạng số 70/QĐ-KSĐT ngày 31/5/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo Khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh nhƣ Cáo trạng và xác định về vai trò của bị cáo trong vụ án, thƣơng tích của ngƣời bị hại chủ yếu do đồng phạm của bị cáo là N và X gây ra nhƣng nguyên nhân lại xuất phát từ bị cáo, bị cáo là ngƣời gây mâu thuẫn trƣớc và đánh ngƣời bị hại nên vai trò của bị cáo và đồng phạm là ngang nhau. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo cùng đồng phạm đánh ngƣời bị hại, ngƣời bị hại đã van xin bị cáo cùng đồng phạm nhƣng bị cáo và các đồng phạm vẫn tiếp tục đánh ngƣời bị hại, cho thấy bị cáo cùng đồng phạm cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo sau phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 104; Điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 65.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) khúc cây gỗ rừng, 01 (một) con dao thái lan, 01 (một) con dao kích thƣớc 36 x 06 cm, cán cây, lƣỡi sắt; 01 (một) đoạn cây tre tầm vông dài khoảng 69 cm đƣờng kính 02 cm.
Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Ngƣời bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 65.000.000 đồng gồm các khoản: Chi phí điều trị 25.000.000 đồng; chi phí đi lại 8.000.000 đồng (tiền thuê xe đi cấp cứu, tái khám, vệ sinh vết thƣơng); chi phí giám định thƣơng tật 2.500.000 đồng; chi phí vật lý trị liệu (01 tháng) 1.500.000 đồng; chi phí phẩu thuật thẩm mỹ 3.000.000 đồng và tiền mất thu nhập trong thời gian 05 tháng điều trị thƣơng tích là 25.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo vì nguyên nhân mâu thuẫn là do bị cáo, nếu không phải bị cáo gây mâu thuẫn thì không có sự việc xảy ra nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, ngƣời bị hại không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L tại phiên toà thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, trƣớc sau thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, lời khai của ngƣời làm chứng về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội cũng nhƣ thƣơng tích thực tế của ngƣời bị hại. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 19/9/2016, tại ấp AC, xã BĐ, thị xã TU, tỉnh BD, bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L cùng đồng phạm (Hồ Văn N và Lê Ngọc X hiện nay bỏ trốn và đang bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU đã ra Quyết định truy nã) đã có hành vi dùng dao và cây tầm vông chém và đánh gây thƣơng tích cho ông Trần Quang T với tỉ lệ thƣơng tật là 26%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” đƣợc quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự nên đã đủ yếu yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhƣ vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố đối với bị cáo L về tội cố ý gây thƣơng tích là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị, hiểu rõ khi dùng dùng dao, cây tầm vông đánh và chém vào những vị trí trên cơ thể của ngƣời bị hại thì khả năng gây tổn hại sức khỏe cho ngƣời bị hại là rất cao. Bị cáo và ngƣời bị hại chỉ vì mâu thuẫn trong lời nói nhƣng bị cáo lại gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại, thể hiện tính xem thƣờng pháp luật. Do đó, cần có mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về vai trò: Bị cáo L cùng các đồng phạm phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, các thƣơng tích của ngƣời bị hại chủ yếu từ hung khí là do dao gây ra nhƣng mâu thuẫn với ngƣời bị hại là xuất phát từ bị cáo L. Do vậy, vai trò của của bị cáo cùng đồng phạm là ngang nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo cùng đồng phạm đánh ngƣời bị hại, ngƣời bị hại đã bị thƣơng tích, không khả năng chống trả, ngƣời bị hại đã van xin bị cáo cùng đồng phạm nhƣng bị cáo và các đồng phạm vẫn tiếp tục đánh ngƣời bị hại, cho thấy bị cáo cùng đồng phạm cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 65.000.000 đồng bao gồm chi phí điều trị thƣơng tích, chi phí đi lại và khoản mất thu nhập trong thời gian điều trị thƣơng tích. Xét thấy, theo quy định tại Điều 288, Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ liên đới thì ngƣời gây thiệt hại trong vụ án có đồng phạm thì phải liên đới bồi thƣờng. Tại phiên toà, bị cáo L tự nguyện bồi thƣờng toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo cùng đồng phạm đang bị truy nã gây ra nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị hại số tiền 65.000.000 đồng. Bị cáo L có quyền yêu cầu các đồng phạm hoàn trả lại phần tài sản mà bị cáo đã bồi thƣờng thay nếu có yêu cầu và sẽ đƣợc giải quyết thành vụ án dân sự khác.
Về xử lý vật chứng: Đối với con dao kích thƣớc 36 x 06 cm, 01 đoạn cây tre tầm vông dài khoảng 69 cm đƣờng kính 02cm là công cụ bị cáo Tú cùng đồng phạm sử dụng vào việc phạm tội và 01 khúc cây gỗ rừng, 01 con dao Thái Lan là vật chứng thu giữ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án, bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thƣờng nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Áp dụng Khoản 2 Điều 104; Điểm e Khoản 1 Điều 48; Điểm p Khoản 1 Điều 46, Điều 53 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2016.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 288, 584, 587, Điều 590, 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L bồi thƣờng cho Trần Quang T số tiền 65.000.000 (sáu mƣơi lăm triệu) đồng bao gồm chi phí điều trị thƣơng tích, chi phí đi lại và tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị thƣơng tích.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao Thái Lan dài 20 cm (cán nhựa màu vàng dài 10 cm, lƣỡi bằng kim loại dài 10 cm); 01 con dao bằng kim loại dài 36 cm, cán dao bằng gỗ, lƣỡi bằng kim loại rộng 06 cm; 01 đoạn cây tre tầm vông khô dài 69 cm, đƣờng kính 02 cm; 01 đoạn cây gỗ khô, bị cong, đƣờng kính 03 cm, dài 2,10 m.
(Thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TU, tỉnh Bình Dƣơng)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đỗ Hữu Hoàng L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000 (ba triệu hai trăm năm mƣơi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - PV27, Công an tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã TU; - Công an thị xã TU; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TU; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |