- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu H - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Nguyễn Thị Thu H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2017/HSST Ngày 30/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Vũ Duy Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân : Bà Phạm Thị Nga và bà Đinh Thị Trà My
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa : Bà Bùi Thị Mai Linh, thư ký Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 30/08/2017 Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2017/HSST-TL ngày 04/08/2017 đối với bị cáo :
Nguyễn Thị Thu H sinh ngày 12/05/1980; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 20 phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân D – chết; Con bà: Nguyễn Thị H - Sn 1958; Gia đình có 02 chị em bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng là: Đặng Minh S – sn 1978, có 02 con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2010.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/04/2017, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Tiền án, tiền sự : Không
Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 1833/HSPT ngày 17/12/2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 11 năm tù về tội chứa mại dâm theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 254, điểm g khoản 1 điều 48, điểm p, l khoản 1 điều 46, khoản 2 điều 46, điều 47 BLHS. Bị cáo đó chấp hành xong bản án năm 2009.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố về hành vi phạm tội cụ thể như sau :
Nguyễn Thị Thu H là đối tượng nghiện không có công ăn việc làm ổn định, để có tiền tiêu sài H nảy sinh ý định mua bán ma túy kiếm lời. Tối ngày 15/04/2017 H nhận được điện thoại của một người đàn ông tên L hỏi mua ma túy, H đồng ý hẹn khi nào có sẽ bán cho. Khoảng 11h ngày 16/4/2017, H đi xe khách từ nhà tại tổ 20 phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đến thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực hồ Ha Le thuộc quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội, H gắp một người phụ nữ tên H1 mà H đã quen biết từ trước, qua trao đổi H mua được của H1 01 hộp ma túy với giá 22.000.000đ ( Hai mươi hai triệu đồng ). Sau đó H mang toàn bộ số ma túy mua được về nhà rồi đóng vào hộp giấy và gọi điện thoại cho L ra khu vực tổ 20 phường Đ, thành phố H để bán với giá 24.000.000 đồng. Đến khoảng 19h ngày 16/4/2017 khi H đang cầm hộp ma túy để bán cho L nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an thành phố Hòa Bình phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật là 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật bên trong chứa 01 hộp giấy màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu trắng và gói nilon màu vàng có chứa chất tinh thể nghi là ma túy tổng hợp, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell bên trong có 02 sim Viettel.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Thu H tại tổ 20 phường Đ, thành phố H cơ quan Công an đã thu giữ 01 hộp sắt bên trong có chứ 02 gói nilon nhỏ, gói thứ nhất chứa 03 gói nilon nhỏ bên trong mỗi gói đều chứa ma túy tổng hợp, gói thứ hai bên trong cũng chứa ma túy tổng hợp. H khai nhận số ma túy này H cũng mua của người phụ nữ tên H1 trước đó khoảng 2 tháng với giá 8.000.000đ ( Tám triệu đồng ) mục đích vừa để sử dụng vừa để bán kiếm lời. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 cân điện tử không có nhãn hiệu, 01 túi nilon bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ kích cỡ giống nhau, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOMI màu trắng.
Tại biên bản mở niêm phong và xác định trọng lượng ngày 14/4/2017 xác định như sau:
Hộp thứ nhất thu giữ tại chân bị cáo khi mang ma túy đi bán hộp bằng giấy bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng trong gói nilon chứa chất dạng tinh thể màu trắng, 03 gói nilon màu vàng bên trong chứa chất dạng tinh thế màu trắng có tổng trọng lượng là 41,13 gam.
Hộp thứ hai hộp sắt thu giữ tại nhà bị cáo trong hộp có chứa 4 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng có tổng trọng lượng là 16,39 gam.
Tổng trọng lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong hai hộp là 57,52 gam.
Tại bản kết luận giám định số 63/PC54 ngày 27/12/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận “ 08 mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong 02 hộp niêm phong gửi giám định có tổng trọng lượng là 57,52g là chất ma túy, loại Methamphetamine ”
Tại phiên tòa Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 78/KSĐT ngày 04/08/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình đã truy tố Nguyễn Thị Thu H về tội : Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm m khoản 2 Điều 194 - BLHS.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm m khoản 2 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46, điều 33 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức án từ 10 năm đến 10 năm 6 tháng tù.
Về vật chứng : Đề nghị áp dụng điều 41, 42 BLHS điều 76 BLTTHS tuyên:
Tịch thu xuất hủy: 01 ( một ) hộp niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định chất ma túy, mang tên đối tượng Nguyễn Thị Thu H, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật ình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký giám định viên; 01 cân điện tử không có nhãn hiệu đã qua sử dụng; 01 túi nilon bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ cùng kích thước.
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, số lmei: 812695110954059, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy, bên trong có 02 sim viettel.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nomi màu trắng, số lmei: 355855421014596 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy.
Bị cáo tranh luận trình bày hoàn cảnh khó khăn phải nuôi 2 con đang ăn học xin mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất và hứa không bao giờ tái phạm.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc điều tra truy tố và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị cáo đảm bảo đúng quy định pháp luật, bị cáo không có khiếu nại gì đối với cơ quan điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cở sở kết luận :
Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980, trú tại tổ 20 phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đã thực hiện hành vi mua bán 41,13gam ma túy, loại Methamphetamine và tàng trữ 16,39 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích vừa để sử dụng cho bản thân và vừa để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy tội phạm được quy định tại điều 194 BLHS. Với tổng trọng lượng ma túy là 57,52 gam Methamphetamine nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm m khoản 2 điều 194 BLHS là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, bị cáo biết rõ nhà nước nghiêm cấm việc sản xuất, vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Song do ý thức coi thường pháp luật, hám lời nên bị cáo đã có hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏa con người, làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trên địa bàn đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy đối với bị cáo cần phải có mức án nghiêm khắc nhằm cải tại, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính nuôi hai con đang ăn học phổ thông, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, bị cáo đã bị Tòa án xử một lần về hành vi chứa mại dâm nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo.
Bị cáo hiện đang giam giữ cần tiếp tục giam giữ bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án theo quy định tại khoản 1 điều 228 BLTTHS.
Về nguồn gốc ma tuý : Bị cáo khai mua của một người phụ nữ tên H1 nhà ở thành phố Hà Nội. Do chưa xác định được lai lịch cụ thể nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với người đàn ông tên L ( còn gọi là L S ) mà bị cáo khai đã hỏi mua ma túy của bị cáo và bị cáo mang ma túy đến điểm hẹn để bán cho L. Qua xác minh tại khu vực tổ 15 phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình có một người đàn ông tên Trần Văn L - Sn 1977 thường gọi là L S khai nhận có quen biết bị cáo nhưng không thừa nhận việc hỏi mua ma túy và cũng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vật chứng vụ án gồm :
- 01 ( một ) hộp niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định chất ma túy, mang tên đối tượng Nguyễn Thị Thu H, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật ình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký giám định viên; 01 cân điện tử không có nhãn hiệu đã qua sử dụng; 01 túi nilon bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ cùng kích thước. Đây là số lượng ma túy hoàn trả sau giám định và dụng cụ bị cáo dùng vào việc mua bán ma túy cần tịch thu xuất hủy theo quy định tại điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS.
- 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, số lmei: 812695110954059, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy, bên trong có 02 sim viettel đây là phương tiện bị cáo liên lạc dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước theo quy định tại điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nomi màu trắng, số lmei: 355855421014596 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy đây là tài sản của bị cáo không liên quan tới việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điều 42 BLHS và điều 76 BLTTHS.
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo như biên bản giao nhận vật chứng số 64/BB ngày 28/8/2017.
Về án phí : Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 99 BLTTHS và Nghị quyết 326 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH :
1. Tuyên bố : Nguyễn Thị Thu H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Áp dụng: Điểm m khoản 2 điều 194 ; điểm p khoản 1 điều 46, điều 33 BLHS, xử phạt Nguyễn Thị Thu H 8 ( Tám ) năm 6 ( Sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/04/2017.
2. Về vật chứng vụ án : Áp dụng điều 41, 42 BLHS và điều 76 BLTTHS tuyên:
- Tịch thu xuất hủy: 01 ( một ) hộp niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định chất ma túy, mang tên đối tượng Nguyễn Thị Thu H, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật ình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký giám định viên; 01 cân điện tử không có nhãn hiệu đã qua sử dụng; 01 túi nilon bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ cùng kích thước.
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, số lmei: 812695110954059, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy, bên trong có 02 sim viettel.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nomi màu trắng, số lmei: 355855421014596 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy.
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo như biên bản giao nhận vật chứng số 64/BB ngày 28/8/2017.
3. Về án phí : Áp dụng điều 99 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000đ( Hai trăm nghìn đồng ) án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình - VKSND TP. Hòa Bình - Sở Tư pháp HB - CA TP.Hòa Bình - THAHS - DS - Các Đương sự - Lưu HS | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Tuấn |