vanban.org

Bản án 84/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 27/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Liễu Thanh Th (Ph) phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 93, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Liễu Thanh Th (Ph) 07 (bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Liễu Thanh Thông - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Liễu Thanh Th (Ph) phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2017/HS-ST
Ngày: 27-12-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến

Thẩm phán: Ông Lê Trọng Hân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Hoàng Duyên

Ông Nguyễn Văn Quyền

Ông Đoàn Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2017/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Liễu Thanh Th (Ph), sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Hoa; con ông Liễu Thanh L và bà Lê Thị Ch; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 14/4/2017 (Có mặt).

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo:

Luật sư Lại Hùng A – Văn phòng luật luật sư Hùng A - Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

- Người bị hại:

Ông Liễu Thanh S, sinh năm 1974 (chết)

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

Bà Lê Thị Ch, sinh năm 1937 (mẹ bị hại) (Có mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ, ngày 14/4/2017, Liễu Thanh Th cùng Liễu Thanh S (anh ruột Th) và Ngô Văn S đi uống rượu tại nhà người hàng xóm tên T tại ấp Th, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Một lúc sau, S và S đi về nhà S ở ấp T tiếp tục uống rượu ở sau nhà bếp. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, S và S nghỉ uống rượu, S đi ra ngoài ngủ còn S ở trong bếp. Lúc này, Th đi vào bếp, Th và S xảy ra mâu thuẫn do Th nói S không đưa tiền cho mẹ ruột là bà Lê Thị Ch. Th lấy 01 cây dao Thái Lan dài khoảng 20 cm có cán bằng nhựa cứng màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi dao nhọn, Th ngồi trên giường trong bếp gọt trái cây và nói chuyện với bà Ch. S đi đến dùng tay phải tát vào vùng mặt bên trái của Th 02 cái. Th tiếp tục nói về việc S không đưa tiền cho bà Ch, S xông đến định dùng tay đánh Th thì bị Th dùng tay trái cầm dao Thái Lan đâm 01 nhát trúng mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải. Bà Ch đến can ngăn thì bị trúng mũi dao gây thương tích nhẹ trên tay phải. Th cầm dao ngồi trên giường và nói với S “anh lại đánh tôi nữa là tôi đâm anh đó”. S xông đến định đánh Th, Th nhỏm người dậy, tay trái Th cầm dao Thái Lan đâm về phía trước, theo hướng từ trái qua phải, trúng vào vùng ngực phải của S 01 nhát làm S bất tỉnh đè Th nằm ngữa trên giường. Sau đó, Th vào báo cho bà Ch biết, bà Ch cùng mọi người đưa S đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện H đến khoảng 14 giờ cùng ngày S tử vong. Đến 15 giờ 30 phút, ngày 14/4/2017, Th ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Hòn Đất.

* Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 207, ngày 18/5/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Kiên Giang đối với Liễu Thanh S – Sinh năm 1974, HKTT tại ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, kết luận như sau:

1. Các kết quả chính:

- Mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải có vết thương hình chữ L có cạnh 2,5 cm và cạnh 02 cm, rộng 0,7 cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào lớp da và cơ 2,5 cm theo hướng từ phải sang trái

- Ngực phải có vết thương, bờ mép sắc gọn, thủng sâu vào khoang ngực.

- Tụ máu dưới da và cơ vùng ngực phải.

- Khoang màng phổi phải có khoảng 1.000 ml.

- Đứt cơ liên sườn 1 – 2 bên phải.

- Đứt thùy trên phổi phải, xuyên thấu.

- Đứt nhiều mạch máu thùy trên phổi phải.

2. Kết luận:

- Liễu Thanh Sửu tử vong sốc mất máu cấp do vết thương thấu ngực phải gây thủng phổi phải.

* Vật chứng vụ án:

Sau khi vụ án xảy ra, bà Lê Thị Ch đã ném quần áo, chăn mùng có dính máu và hung khí gây án là 01 cây dao Thái Lan dài khoảng 20 cm có cán bằng nhựa cứng màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi dao nhọn, xuống đường kênh 200 sau nhà bà Chanh, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Hòn Đất đã truy tìm nhưng không tìm thấy.

Tại bản cáo trạng số: 46/KSĐT-TA ngày 08 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Liễu Thanh Th về tội: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chính bị cáo là người đã gây ra cái chết cho người bị hại Liễu Thanh S.

Lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào Điều 195 Bộ luật tố tụng hình sự rút một phần Quyết định truy tố đối với bị cáo, chuyển sang truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 93, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự. Xử bị cáo Liễu Thanh Th từ 8 - 10 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm:

Luật sư nhất trí với quan điểm của vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo và chuyển sang truy tố theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đầu thú và đã tác động mẹ lo mai táng phí cho anh trai. Mặt khác, hành vi giết người của bị cáo là do có lỗi của người bị hại, bị cáo bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Th mức án dưới khung hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại đồng thời cũng là mẹ bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm được trở về lo cho mẹ, mẹ bị cáo đã già yếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Liễu Thanh Th khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Bị cáo Liễu Thanh Th với người bị hại Liễu Thanh S là anh em ruột cùng sống chung với mẹ là bà Lê Thị Ch. Vào ngày 14/4/2017, Liễu Thanh Th và Liễu Thanh S cùng đi nhậu về cự cãi với nhau về việc đưa tiền cho mẹ. S dùng tay tát vào mặt Th hai cái, S tiếp tục xông vào định đánh Th thì bị Th cầm dao thái lan đâm một nhát trúng vào cánh tay phải. Bà Ch can ngăn, S xông đến định đánh Th nữa thì bị Th cầm dao thái lan đâm một nhát trúng vào vùng ngực phải của S. Hậu quả Liễu Thanh S đã tử vong. Hành vi giết người của bị cáo Liễu Thanh Th là do có một phần lỗi của người bị hại. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang chuyển Quyết định truy tố đối với bị cáo từ điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự sang khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo Liễu Thanh Th là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ việc cự cãi giữa bị cáo với bị hại, bị cáo dùng cây dao thái lan đâm vào vùng ngực của người bị hại làm bị hại tử vong, hành vi của bị cáo là đã xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Người bị hại là anh ruột của bị cáo, lẽ ra bị cáo phải có tình yêu thương, giúp đỡ và cùng anh chăm lo vun vén cho gia đình. Nhưng bị cáo chỉ vì tức giận tức thời đã ra tay sát hại anh mình. Hành vi của bị cáo đã gây nên nỗi đau xót cho chính bị cáo và cho gia đình, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, làm phức tạp thêm tình trạng sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn trong gia đình. Do đó cần thiết phải quyết định cho bị cáo một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo ăn năn hối cải và tự suy ngẫm về tội lỗi của mình đã gây ra, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo là do có một phần lỗi của người bị hại nên xét xử bị cáo ở khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra rất ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đầu thú với cơ quan công an và nhờ mẹ đứng ra lo mai táng phí cho anh trai mình, mẹ bị cáo đồng thời là mẹ của người bị hại cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về quan điểm bào chữa của luật sư: Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận, còn về điểm đ là “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại…” là không có căn cứ, bởi lẽ tình tiết có lỗi của người bị hại đã là tình tiết định khung hình phạt.

Về quan điểm đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát: Tại tòa, kiểm sát viên rút Quyết định truy tố từ điểm n khoản 1 Điều 93 và chuyển sang khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Lê Thị Ch yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xem xét khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi bị cáo bồi thường thêm một khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Liễu Thanh Th (Ph) phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng: Khoản 2 Điều 93, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Liễu Thanh Th (Ph) 07 (bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2017.

3. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ