vanban.org

Bản án 84/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cƣ́ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cƣ́ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Căn cƣ́ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xƣ̉ : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn cƣ́ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 84/2017/HNGĐ-ST
Ngày 14-9-2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc;

2. Ông Lê Phú Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:233/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số83/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2017, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1983; Thƣờng trú: xóm L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: 18B/22, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981; Thƣờng trú: ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Tạm trú: 18B/22, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2017, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòanguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh T có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2007 ngày 27/6/2007.

Sau khi kết hôn, vợ chồng thuê nhà sống ta ̣i nhiều đi ̣a phƣơng khác nhau: Long An, Thành phố Hồ Chí Minh … . Đầu năm 2016, vợ chồng về thi ̣ xa D , tỉnh Bình̃ Dƣơng thuê nhà sinh sống. Thờ i gian này vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn , thƣờ ng xuyên cai vã

̃ . Nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn , mặt khác anh T nghiện ma túy, có nhiều mối quan hê ̣, làm ăn phức tạp . Chị và anh T ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng kéo dài không thể hàn gắn đƣợc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N và anh T không có con chung.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Thanh T:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án tại địa chỉ cƣ trú nơi anh T có đăng ký tạm trú và yêu cầu anh T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị N nhƣng anh T không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 14/7/2017 và 03/8/2017 nhƣng anh T vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện viê ̣c đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị N. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, nhƣ̃ng ngƣờ i tiến hành tố tu ̣ng và nhƣ̃ng ngƣờ i tham gia tố tu ̣ng đa tuân thũ

̉ quy đi ̣nh của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thanh T vắng mă ̣t trong suốt quá trinh

̀ tố tu ̣ng nhƣng đa đƣợ̃

c Tòa án triê ̣u tâ ̣p hợp lê ̣. Về nội dung vụ án, chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T là có căn cứ để chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Thị N khở i kiê ̣n anh Nguyễn Thanh T yêu cầu đƣợc ly hôn nên đây là vu ̣ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS). Bị đơn có nơi cƣ trú tại phƣờng D, thị xã D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 28/8/2017 và ngày 14/9/2017 nhƣng cả hai lần anh T đều vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt bi ̣ đơn.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2007 ngày 27-6-2007 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị N xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn , vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế . Anh T bị nghiện ma túy và đã bỏ đi nơi khác sinh sống, chị và anh T đã ly thân từ tháng 5-2016 cho đến nay. Hiện nay anh T nghiện ma túy, chỗ ở không ổn định, công viê ̣c có nhiều mối quan hê ̣ phƣ́ c ta ̣p; đồng thờ i anh T cũng không có trách nhiê ̣m và không quan tâm đến gia đinh . Điều này chứng tỏ cuộc

̀ sống hôn nhân của chị N và anh T không thể kéo dài , mâu thuẫn đã thâ ̣t sự trầm trọng. Việc anh T nghiện ma túy và chỗ ở không ổn định theo trình bày của chị N cũng đƣợc xác nhận bởi chính quyền địa phƣơng theo biên bản xác minh tại Công an phƣờng Dĩ An ngày 29-5-2017.

Về phia anh T, sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh T đến

́ tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh T không đến Tòa án, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt đƣợc mục đích. Chị N xin ly hôn là có căn cứ chấp nhâ ̣n theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: Chị N và anh T không có con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đa ̣i diê ̣n Viện K iểm sát về viê ̣c giải quyết vu ̣ án là phù hợp vớ i quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cƣ́ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cƣ́ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cƣ́ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xƣ̉ :

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N đƣợc ly hôn vớ i anh Nguyễn Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2007 ngày 27-6-2007 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp).

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh T không có con chung.

3. Về tài sản chung và nghia vu ̣̃

chung : Đƣơng sƣ̣ không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009162 ngày 07-4-2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Nguyên đơn có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhâ ̣n đƣợc bản án hoă ̣c đƣợc tống đa ̣t hợp lê ̣ bản án./.

Cỡ chữ