vanban.org

Bản án 834/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 30/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị A, Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09/8/2018 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị A phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt Đỗ Thị A: 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị A, Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09/8/2018 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 834/2018/HSPT
Ngày: 30-11-2018

NNHHÂÂNN DDTTHHỊỊ AA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Bá Sơn.

Các thẩm phán:

Ông Lê ThThị A Bình

Ông Nguyễn Thái Sơn

- Thư ký phiên toà:

Ông Lê Đức Lợi – Thư ký toà án nhân

dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Minh Phương –Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ Thị L số 770/2018/HSPT ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Đỗ Thị A do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận ThThị A Xuân, thành phố Hà Nội:

Bị cáo bị kháng cáo:

Đỗ Thị A, sinh năm 1990, HKTT và nơi ở: huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá 09/12; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Huy Nh và bà Dương Thị Th. Chồng: Hoàng Văn Th. Con: Có 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không. Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, người bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị, Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/11/2017 Đỗ Thị A thuê nhà trọ ở cùng với chị Đỗ Thị L, chị Phùng Thị Bích Ng và chị Tr tại Chính Kinh, Nhân Chính, ThThị A Xuân, Hà Nội. Khoảng 06 giờ 20 ngày 20/11/2017, chị Thị L và chị Bích Ng đi làm, còn một mình Thị A ở lại phòng trọ. Do đang nợ tiền nên Thị A đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Cpu: i5-3320M, RAM: 4G, HĐ/SSD: 320GB, VAG: HD Graphics, LCD: 1600x900 của chị Đỗ Thị Thị L cất ở ngăn dưới cùng tủ quần áo kê ở cạnh gường chị Thị L để bán lấy tiền trả nợ. Đỗ Thị A mở tủ lấy trộm chiếc máy tính trên rồi đi xe buýt từ Hà Nội về thành phố Bắc Giang đến cửa hàng mua bán sửa chữa máy tính số 23 Hùng Vương – Ngô Quyền – Bắc Giang bán chiếc máy tính cho anh Dương Anh T với giá 2.800.000 đồng, sau đó Anh T bán lại cho khách với giá 3.000.000 đồng (hiện không thu hồi được). Khoảng 12 giờ ngày 22/11/2017, Đỗ Thị A tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính nhãn hiệu ASUS màu đen của chị Phùng Thị Bích Ng nên Đỗ Thị A bắt xe từ Bắc Giang lên Hà Nội (thời điểm này chị Thị L và chị Bích Ng đi làm) dùng chìa khoá của Thị A mở cửa phòng trọ và trộm cắp chiếc Laptop trên rồi bắt xe buýt từ Hà Nội về Bắc Giang đến cửa hàng mua bán, sửa chữa máy tính số 51 Hùng Vương, Ngô Quyền, Bắc Giang bán chiếc máy tính trên cho anh Nguyễn Văn Th với giá 2.000.000 đồng, sau đó Văn Th bán lại cho khách (hiện không thu hồi được)

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Thị A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Tại bản kết luận giám định tài sản số 224/KLGĐ ngày 06/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận ThThị A Xuân kết luận: 01 laptop Model: HP6470b màu bạc, Cpu: i5-3320M, Ram: 4G, HĐ/SSD: 320GB, VGA: HD graphics 4000, LCD: 1600x900 có giá: 3.000.000 đồng; 01 laptop nhãn hiệu ASUS màu đen có giá: 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 5.000.000 đồng.

Sau khi sự việc xảy ra Đỗ Thị A đã tự nguyện bồi thường cho chị Đỗ Thị Thị L số tiền 3.500.000 đồng và chị Phùng Thị Bích Bích Ng 6.900.000 đồng. Chị Thị L và chị Bích Ng đã nhận tiền và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đỗ Thị A.

C¸o tr¹ng sè 99/CT-VKS ngày 13/6/2018 của ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn ThThị A Xuân đã truy tố các bị cáo Đỗ Thị A về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bé luËt h×nh sù.

Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09/8/2018 của Tòa án nhân dân quận ThThị A Xuân, thành phố Hà Nội: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đỗ Thị A 08 tháng tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018 bị cáo Đỗ Thị A kháng cáo đề nghị xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo, vì bị cáo phạm tội lần đầu, đã bồi thường khắc thiệt hại cho người bị hại, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, đã nhận ra lỗi lầm, ăn năn hồi cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, vợ chồng đang ly thân.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Sau khi phân tích đánh giá mức độ của hành vi, nhân thân của bị cáo, cũng như phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 đến 07 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết tội bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản và áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” là chính xác, Tuy nhiên hình phạt 08 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo có xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; nhân thân chưa tiền án tiền sự, tài sản chiếm đoạt không lớn và đã khắc phục, hành vi có tính chất cơ hội, bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ 04 tuổi. Vì vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị A, Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HSST ngày 09/8/2018 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị A phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt Đỗ Thị A: 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị A cho Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ