- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội môi giới mại dâm (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hà Ng, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm số 52/2018/HSST ngày 17/5/2018 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 832/2018/HSPT Ngày: 30-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
Ông Đào Bá Sơn.
Các thẩm phán:
Ông Lê Thanh Bình
Ông Nguyễn Thái Sơn
- Thư ký phiên toà:
Ông Lê Đức Lợi – Thư ký toà án nhân
dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Lưu Mạnh Hoan – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 572/2018/HSPT ngày 28 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Lê Hà Ng do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội:
- Bị cáo kháng cáo:
Lê Hà Ng; Sinh ngày 08 tháng 9 năm: 1989 tại: Hà Nam; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Kim Lợi và con bà: Nguyễn Thị Ng; Chồng: Bùi Khánh H (Đã ly hôn); có 02 con. Con nhỏ sinh năm 2014, con lớn sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ ngày 29/12/2017; hủy tạm giữ ngày 05/01/2018. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Hà Ng:
Ông Chu Thành Nam – Luật sư Công ty Luật TNHH Thế Kỷ XXI, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. vắng mặt.
Ngoài ra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không kháng cáo (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 29/12/2017, tổ công tác thuộc Công an quận Thanh Xuân tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn My Iris Hotel tại số N8A2 Nguyễn Thị Thập, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang 02 đôi đang mua bán dâm. Tại phòng 402 có Hà Trọng T (sinh năm 1989) và Dương Thị N (sinh năm: 1982), tại phòng 502 có Hà Văn H (sinh năm 1981) và Lê Hà Ng (sinh năm 1989). Sau đó, tổ công tác đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12 giờ 00 ngày 29/12/2017, Văn H và Trọng T rủ nhau đi mua dâm. Văn H dùng số điện thoại 0964420*** gọi vào số 0948995*** của Hà Ng là gái bán dâm và thỏa thuận Hà Ng với giá 3.000.000 đồng/lượt/người Hà Ng đồng ý. Ngay sau đó Hà Ng nhắn tin vào tài khoản Zalo mang tên Selimiene của Dương Thị N (sinh năm: 1982) rủ Thị N đi bán dâm. Thị N đã đồng ý và Hà Ng hẹn Thị N đến quán cà phê số 88 phố Ngụy Như Kon Tum, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội gặp mặt. Văn H lấy 6.000.000 đồng đưa cho Hà Ng là tiền 02 xuất mua dâm. Hà Ng cất toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng vào túi. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Hà Ng và Văn H đứng dậy thuê taxi đi trước đến khách sạn My Iris Hotel tại số N8A2 Nguyễn Thị Thập, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội thuê phòng 502 để thực hiện việc mua bán dâm. Khoảng 10 phút sau, Thị N và Trọng T đến khách sạn trên thuê phòng 402. Khi hai đôi đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang.
Tại cơ quan điều tra, Lê Hà Ng và Dương Thị N khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Đối với Lê Hà Ng và Dương Thị N có hành vi bán dâm, Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 167/NĐ-CP, mức phạt 200.000 đồng.
Đối với Hà Văn H và Hà Trọng T có hành vi mua dâm, Công an quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định 167/NĐ-CP, mức phạt 750.000 đồng.
Đối với Đặng Thị Dung (sinh năm 1995)- Nhân viên khác sạn My Iris Hotel về ý thức chủ quan không biết việc Văn H, Hà Ng, Hà, Trọng T thuê phòng để hoạt động mại dâm. Do vậy, cơ quan công an không đề cập xử lý.
Đối với anh Ngô Văn T, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn khách sạn và du lịch Hoa Diên Vĩ đại diện cho khách sạn My Iris Hotel đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý kinh doanh để xảy ra hoạt động mua, bán dâm trong cơ sở kinh doanh do mình quản lý và không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự nên Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP mức phạt là 35.000.000 đồng và điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP mức phạt là 30.000.000 đồng. Tổng mức tiền phạt là 65.000.000 đồng. Xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh số 0107249102 cấp lần đầu ngày 12/12/2015 trong thời hạn 9 tháng quy định tại khoản 3 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 28/03/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố các bị cáo Lê Hà Ng về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự 2015.
Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HSST ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Áp dụng khoản 1Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Hà Ng 10 tháng tù.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28 tháng 5 năm 2018 bị cáo Lê Hà Ng kháng cáo đề nghị xin hưởng án treo vì đang phải nuôi 02 con nhỏ.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Lê Hà Ng khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung như kháng cáo và bị cáo cũng xin bổ sung: đơn xác nhận bị cáo có ông nội là Lê Kim B là liệt sỹ hiện do gia đình bị cáo thờ cúng, bố bị cáo là Lê Kim L tham gia quân đội, hiện là cựu chiến binh (các văn bản trên đều có xác nhận của chính quyền địa phương), việc bị cáo đã ly hôn (có quyết định của toà án), đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để nuôi 02 con nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh của bị cáo, thái độ thành khẩn. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình các tình tiết mới như có ông nội là liệt sỹ hiện gia đình đang thờ cúng, có bố đẻ tham gia quân đội và hiện là cựu chiến binh đây là các tình tiết giảm nhẹ mới, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng việc cách ly bị cáo là không cần thiết, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 10 tháng tù nVăn H cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Ngày 29/12/2017, Lê Hà Ng có hành vi môi giới cho Dương Thị N bán dâm tại khách sạn My Iris Hotel tại số N8A2 Nguyễn Thị Thập, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Bản án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đùng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vợ chồng đã ly hôn bị cáo hiện đang nuôi 02 con, con nhỏ nhất sinh năm 2014 đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 10 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình xác nhận bị cáo có ông nội là Lê Kim B là liệt sỹ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống pháp hiện gia đình đang thờ cúng, có bố để là ông Lê Kim L là tham gia quân đội trong thời kỳ chống mỹ cứu nước là tình tiết mới. Do vậy, cần xem xét và áp dụng chính sách nhân đạo của pháp luật cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phân tích tại phiên toà là phù hợp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hà Ng, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm số 52/2018/HSST ngày 17/5/2018 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
Tuyên bị cáo Lê Hà Ng phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51: Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Lê Hà Ng: 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Hà Ng cho Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TA; VKS, CA, Chi cục THA Q. Thanh Xuân; - TATC; VKSHN; PC 27 CAHN; - Bị cáo; - Lưu trữ, Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Đào Bá Sơn |