- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Nh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: ị cáo Nguyễn Văn Nh phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 83/2021/HS-ST Ngày: 16/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THẬN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm ph n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Qu c Tuấn.
C c hội thẩm nhân dân
Ông Tạ Văn Việt
à Nguyễn Thị Phương Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: à Minh Thị Th Hòa - C n bộ Tòa n.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B1 tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Th ng- Kiểm s t viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa n nhân dân huyện B1 xét xử sơ thẩm công khai vụ n hình sự thụ lý s 83/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử s 86/2021/QĐXXST-HS ngày 24/8/2021 đ i với bị c o:
Nguyễn Văn Nh (Tên gọi kh c: Hậu), sinh ngày 15/02/1996
Nơi sinh: Tỉnh ình Thận.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Qu c Hùng, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị ông, sinh năm 1969; Đều trú tại: Thôn B, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận.
Tiền n: Có 01 tiền n: Ngày 31/8/2015 bị Tòa n nhân dân huyện B1, tỉnh Bình Thận xử phạt 12 th ng tù về tội: “Trộm cắp tài s n”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/3/2016. Chưa đóng n phí hình sự sơ thẩm và c c phần kh c của b n n, nên chưa được xóa n tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/11/2014 bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài s n, với mức phạt tiền là 1.500.000 đồng.
Tạm giam: Ngày 18/6/2021
ị c o có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Th, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Bình Liêm, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Huỳnh Xuân Ph, sinh năm 1998 (Có mặt)
2. Võ Thị L, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B1, Bình Thận.
- Người làm chứng:
1. Phạm Thanh S, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu ph Thanh Giang, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, ình Thận
2. Ngô Qu c C, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B1, Bình Thận
3. Phan Nguyên Ngọc T, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn ình Long, xã P, huyện B1, Bình Thận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Nh (tức là Hậu), sinh ngày 15/02/1996, ở thôn B, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận cùng đồng bọn lén lút, bí mật lấy trộm tài s n của người kh c, sau đó Nh bỏ tr n khỏi địa phương, đến ngày 18/6/2021 bắt được Nh trong trường hợp truy nã, được thể hiện như sau:Vào kho ng 21 giờ ngày 11/7/2020, Phạm Thanh S, sinh năm 1983, ở khu ph Thanh Giang, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh ình Thận điều khiển xe mô tô (không rõ biển s ) chở Ngô Qu c C, sinh năm 1989, ở thôn B, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận (xe mô tô này do C mượn của 01 người bạn tên Hùng ở thị trấn Chợ Lầu) từ nhà C đi theo đường Qu c lộ 1A về hướng thị trấn Chợ Lầu. Khi đi ngang qua khu vực Miếu Thiên Y Na Thộc thôn ình Liêm, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận thì nhìn thấy chòi rẫy của Nguyễn Th, sinh năm 1981, ở thôn ình Liêm, xã P, không có người trông coi nên S và C cùng n y sinh ý định đi vào chòi của Th để lấy trộm tài s n. S điều khiển xe mô tô chở C đi vào chòi của Th thì nhìn thấy chòi khóa cửa nên C b o S mở c p xe mô tô lấy cây mỏ lết (có sẳn trong c p xe) ra đưa cho C và C cầm cây mỏ lết ph ổ khóa cửa chòi của Th nhưng không được. S điều khiển xe mô tô chở C quay lại nhà C để tìm dụng cụ ph khóa cửa, khi đi ngang qua nhà của Đặng Hùng, sinh năm 1992, ở thôn B, xã P, huyện B1 (là bạn của C) thì gặp Hùng đứng ngoài đường nên Cưởng hỏi Hùng: Có cây kiềm cộng lực không cho C mượn để cắt sắt làm việc nhà?, Hùng tr lời: Có !, Hùng đi vào nhà của Hùng lấy 01 cây kiềm cộng lực đưa cho C, rồi S điều khiển xe mô tô chở C cầm cây kiềm cộng lực quay lại chòi của Th. C cầm cây kiềm cộng lực cắt khóa, còn S nhìn thấy 01 cây kéo để tại chòi của Th nên S lấy cây kéo cắt tôn cửa. Khi ph được khóa cửa thì C và S mở cửa đi vào trong chòi nhìn thấy 01 c i loa kẹo kéo màu đen, hiệu Dallon; 02 c i Micro; 03 bao dây điện, 02 khây bóng đèn có gắn đuôi dây bóng đèn; 01 c i tủ lạnh hiệu Sharp; 01 bếp điện từ, hiệu Asanzo; 01 m y cắt gạch bằng tay, hiệu FEG màu trắng x m và 01 m y cắt cỏ màu đỏ cam, hiệu Kioritz. S lấy 02 c i Micro cùng với C khiêng 01 c i loa kẹo kéo để trên xe mô tô, rồi đưa 02 c i Micro cho C cầm để S điều khiển xe mô tô chở C ngồi phía sau ôm loa kẹo kéo đi đến nhà của C ở thôn B, xã P cất giấu; rồi S điều khiển xe mô tô chở C quay lại chòi rẫy của Th tiếp tục lấy trộm: 01 khây đựng bóng đèn có gắn đuôi dây bóng đèn, 01 m y cắt cỏ, 01 m y cắt gạch và 01 bếp điện từ để trên xe mô tô, S điều khiển xe chở C ngồi phía sau ôm tài s n trên đi đến nhà của C cất giấu. Sau đó, C và S nhìn thấy Phan Nguyên Ngọc T, sinh năm 1993, ở thôn ình Long, xã P cùng với Nguyễn Văn Nh (tức là Hậu) đang đứng cùng với xe mô tô hiệu Exciter, biển s 86B3-032.55 ở ngoài đường (ở gần nhà của C) nên S rủ T và Nh đến chòi rẫy của Th để lấy trộm tài s n, T và Nh đồng ý. S chạy xe mô tô chở C, còn T điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển s 86 3-032.55 chở Nh đi đến chòi của Th. Tại đây; C, S và Nh khiêng 01 khây bóng đèn có gắn đuôi dây điện bóng đèn cùng với 03 bao dây điện hiệu Cdivi 30 (dài kho ng 2.000m) để lên xe mô tô của C, rồi C điều khiển xe chở S ngồi phía sau ôm; còn T đi vào trong chòi của Th th o dây điện tủ lạnh ra khỏi ổ cấm điện và cùng với Nh khiêng tủ lạnh trong chòi ra để trên xe mô tô của T, rồi T điều khiển xe chở Nh ngồi phía sau ôm, đến nhà C ở thôn B cất giấu. Lúc này, ông Ngô Qu c Tuấn (là ba ruột của C) nhìn thấy s tài s n trên nên ông Tuấn không cho đem vào trong nhà. Tại đây, C, S, T và Nh bàn bạc chia tài s n, rồi lấy 02 khây bóng đèn có gắn đuôi dây điện bóng đèn trộm được bỏ vào 06 c i bao nhỏ; T và Nh khiêng 01 c i tủ lạnh và 03 bao bóng đèn có gắn đuôi dây điện bóng đèn đi giấu tại nhà hoang (c ch nhà C kho ng 300m); còn 03 bao bóng đèn có gắn đuôi dây điện bóng đèn và 03 bao dây điện thì T và S chở đi cất giấu tại bụi cây (c ch nhà của C kho ng 100m); 01 bép điện từ thì T lấy về phòng trọ của T Thê ở sử dụng; s tài s n trộm còn lại cất giấu tại nhà của C. Sau đó, C và S lấy 03 bao dây điện ra đ t lấy đồng, rồi S đem dây đồng đi b n cho 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân L lịch) đi Th mua phế liệu dạo được 3.800.000 đồng, rồi S chia tiền C 1.900.000 đồng và S 1.900.000 đồng; rồi S nhờ Huỳnh Xuân Ph, sinh 1998, ở thôn B, xã P (là vợ của C) đem 01 c i m y cắt cỏ đi kiếm người b n, Ph không biết m y 01 m y cắt cỏ do phạm tội mà có nên đem đến Chợ P tìm người b n và b n cho bà Võ Thị L, sinh năm 1960, ở thôn B, xã P, huyện B1 được 800.000 đồng và Ph đem tiền về đưa cho S; rồi bà Võ Thị L giới thiệu 01 người phụ nữ (không rõ họ và tên) ở thị trấn Phan Rí Cửa đến nhà của C mua 01 cái loa kẹo kéo kèm theo 02 c i Micro với gi 1.800.000 đồng; tổng cộng là 2.600.000 đồng, S và C chia nhau mỗi người được 1.300.000 đồng. ( l s : 104-115)
Đến kho ng 06 giờ ngày 12/7/2020, Nguyễn Th đi lên chòi rẫy thì ph t hiện bị kẻ gian cắt khóa đột nhập vào chòi lấy trộm tài s n: 01 loa kẹo kéo màu đen, hiệu dallton; 02 c i Micro; 01 c i tủ lạnh hiệu Sharp màu trắng x m; 02 khây bóng đèn có gắn đuôi dây điện bóng đèn (trong đó có 500 bóng đèn Compact 3U gồm 03 loại: 220 c i hiệu Rạng đông, 40 c i hiệu Paralight và 240 c i hiệu Max Win); 20 cuộn dây điện để trong 03 bao; 01 c i m y cắt cỏ màu đỏ cam, hiệu KIORIT2; 01 bếp điện từ hiệu ASAZO và 01 m y cắt gạch hiệu FEG. Sau đó, Nguyễn Th làm đơn b o mất tài s n gửi đến Công an xã P và Cơ quan CSĐT Công an huyện B1. ( l s : 77-91)
Sau khi tiếp nhận tin b o, Cơ quan CSĐT Công an huyện B1 đã tiến hành kh m nghiệm hiện trường, tiến hành x c minh, ghi lời khai bị hại, mời những người liên quan Ngô Qu c C, Phạm Thanh S và Phan Nguyên Ngọc T làm việc. Tại đây, C, S và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên;
Cơ quan CSĐT đã Th giữ: 01 c i lao kẹo kéo màu đen, hiệu dallton cùng với 02 c i Micro; 01 c i tủ lạnh hiệu Sharp màu trắng x m; 03 bao bóng đèn có gắn đuôi đèn có tổng cộng là 215 bóng đèn có gắn đuôi bóng đèn, hiệu Max Win; 01 c i m y cắt cỏ màu đỏ cam, hiệu KIORIT2; 01 bếp điện từ hiệu ASAZO và 01 m y cắt gạch hiệu FEG; còn lại 03 bao dây điện đã bị đ t ch y lấy đồng và 285 bóng đèn có gắn đuôi dây điện bóng đèn đã mất nên không Th hồi được. ( l s : 94-97)
Theo b n kết luận định gi tài s n s 49/2020/HĐĐG-TTHS ngày 26/8/2020 của Hội đồng định gi tài s n trong t tụng huyện B1, kết luận c c tài s n mất trộm vào ngày 11/7/2020 tại nhà Nguyễn Th, như sau:
(1)Tủ lạnh hiệu Sharp, màu trắng x m, mua năm 2019: Nguyên gi : 6.000.000 đồng/c i; s lượng 01 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại 50%; thành tiền: 01 c i x (6.000.000 đồng x50%) = 3.000.000 đồng.
(2)Loa kẹo kéo hiệu Dalton, màu đen, mua năm 2019: Nguyên gi : 8.000.000 đồng/c i; s lượng: 01 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại 40%; thành tiền: 01 c i x (8.000.000 đồng x 40%) = 3.200.000 đồng.
(3)Micro hiệu Dalton, mua năm 2019: Nguyên gi : 500.000 đồng/c i; s lượng : 02 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 400.000 đồng.
(4)Dây điện hiệu Cdivi 30, s lượng 2.000m, mua năm 2019: Nguyên gi : 5.000 đồng/mét; s lượng: 2.000 mét; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 2.000 mét x (5.000 đồng x 40%)= 4.000.000 đồng.
(5)M y cắt cỏ hiệu Kioritz, màu cam, mua năm 2018: Nguyên gi : 2.500.000 đồng/c i; s lượng: 01 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 01 c i (2.500.000 đồng x 40%) = 1.000.000 đồng.
(6) ếp điện từ hiệu Asanzo, mua năm 2018: Nguyên giá: 1.000.000 đồng/c i; s lượng: 01 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 01 c i x (1.000.000 đồng/c i x 40%) = 400.000 đồng.
(7)M y mài cắt gạch hiệu FFG, màu đỏ đen, mua năm 2018: Nguyên gi : 1.000.000 đồng/c i; s lượng: 01 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 01 c i x (1.000.000 đồng x40%) = 400.000 đồng.
(8) óng đèn Compact 03U hiệu Rạng Đông, mua năm 2018: Nguyên gi : 28.000 đồng/c i; s lượng: 220 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 220 c i x (28.000 đồng x 28.000 đồng x 40%) = 2.464.000 đồng.
(9) óng đèn Compact 3U hiệu Maxwin, mua năm 2018: Nguyên gi : 30.000 đồng/c i; s lượng 240 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 240 c i x (30.000 đồng x 40%) = 2.880.000 đồng.
(10) óng đèn Compaxt 3U hiệu Paralight, mua năm 2018: Nguyên gi : 28.000 đồng/c i; s lượng 40 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 40 c i x (28.000 đồng x 40%) = 448.000 đồng.
(11)Đuôi dây điện gắn bóng đèn (có gắn dây), mua năm 2018: Nguyên gi : 6.500 đồng/c i; s lượng: 500 c i; tỷ lệ sử dụng còn lại: 40%; thành tiền: 500 c i x (6.500 đồng x 40%) = 1.300.000 đồng.
Tổng cộng: (1+2+…+10+11) = 19.492.000 đồng. (Mười chín triệu, b n trăm chín mươi hai nghìn đồng). ( l s : 12-18).
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Nguyễn Văn Nh đã bỏ tr n khỏi địa phương, đi đến tỉnh Đắk Lắk làm Thê. Cơ quan C nh s t điều tra Công an huyện B1 đã ra quyết định truy nã, đến ngày 18/6/2021 bắt được bị can Nh trong trường hợp truy nã. Qu trình phục hồi điều tra vụ n, bị can Nguyễn Văn Nh khai nhận: Nh và Phan Nguyên Ngọc T có đi cùng với Ngô Qu c C và Phạm Thanh S đến chòi rẫy của Nguyễn Th lấy trộm 01 c i tủ lạnh như nội dung diễn biến nêu trên, còn Phạm Thanh S và Ngô Qu c C lấy trộm những tài s n gì thì Nh không để ý. ( l s : 72-76)
Nhưng căn cứ lời khai của Ngô Qu c C, Phạm Thanh S và Phan Nguyên Ngọc T khai nhận phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, kết qu định gi tài s n, kết qu kh m nghiệm hiện trường và c c tang vật chứng Th giữ được nên đủ cơ sở để kết luận: Ngô Qu c C và Phạm Thanh S có hành vi lén lút, bí mật lấy trộm tài s n của Nguyễn Th với tổng gi trị là 19.492.000 đồng. Nguyễn Văn Nh và Phan Nguyên Ngọc T có hành vi cùng với Ngô Qu c C và Phạm Thanh S lén lút, bị mật lấy trộm: 01 c i tủ lạnh trị gi 3.000.000 đồng, 01 khây chứa 250 cái bóng đèn Compact 03U hiệu Rạng Đông, Maxwin, Paralight trị gi 2.896.000 đồng; 250 c i đuôi dây điện bóng đèn trị gi 650.000 đồng và 2.000m dây điện hiệu Cadivi 30, trị gi 4.000.000 đồng, với tổng gi trị: 10.546.000 đồng.
Đ i với hành vi trộm cắp tài s n của Ngô Qu c C, Phạm Thanh S và Phan Nguyên Ngọc T, những người liên quan cùng với tang, vật chứng của vụ n và phần dân sự: Đã được gi i quyết xong trong vụ n: Trộm cắp tài s n, theo b n n s 16/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa n nhân dân huyện B1, nên trong vụ n này không xem xét gi i quyết. ( l s : 124-129)
Tại b n c o trạng s 81/CT-VKS.HBB ngày 18/8/2021 của Viện kiểm s t nhân dân huyện B1 đã truy t bị cáo Nguyễn Văn Nh, về tội: “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 ộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Kiểm s t viên Viện kiểm s t nhân dân huyện B1 luận tội đ i với bị c o tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy t và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên b : ị cáo Nguyễn Văn Nh phạm tội: “ Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 ộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Áp dụng: Kho n 1 Điều 173; Điểm s kho n 1 Điều 51; Điểm h kho n 1 điều 52; Điều 38 ộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)h; Xử phạt: ị cáo Nguyễn Nguyễn Văn Nh từ 18 đến 24 tháng tù ;
Bị cáo Nguyễn Văn Nh không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị c o để sớm trở về với gia đình.
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại điện Viện kiểm s t là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào c c tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B1, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện B1,Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của ộ luật t tụng hình sự. Qu trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay,bị c o Nguyễn Văn Nh không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp ph p.
Về nội dung:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị c o Nguyễn Văn Nh đã thừa nhận:Vào kho ng kho ng hơn 21 giờ ngày 11/7/2020 tại chòi rẫy của Nguyễn Th ở thôn ình Liêm, xã P, huyện B1, tỉnh ình Thận. ị c o Nguyễn Văn Nh cùng Phan Nguyên Ngọc T, Ngô Qu c C và Phạm Thanh S có hành vi lén lút, bí mật lấy trộm: 01 c i tủ lạnh, 01 khây chứa 250 c i bóng đèn Compact 03U hiệu Rạng Đông, Maxwin, Paralight; 250 c i đuôi dây điện bóng đèn và 2.000m dây điện hiệu Cadivi 30. Tổng gi trị tài s n là 10.546.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị c o hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và c c tài liệu,chứng cứ kh c đã Th thập trong hồ sơ vụ n. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Nh phạm tội: “Trộm cắp tài s n”. Với hành vi nêu trên và hậu qu để lại, c o trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B1 truy t bị c o Nguyễn Văn Nh về tội: “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 LHS là có cơ sở và đúng ph p luật.
Bị c o hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đọat tài s n là hành vi nguy hiểm cho xã hội ph i bị xử lý nhưng do b n chất tham lam, tư lợi c nhân và xem thường ph p luật, bị c o đã phạm tội. Bị c o có nhân thân xấu. ị c o phạm tội do lỗi c ý trực tiếp.
Hành vi phạm tội của bị c o không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp ph p về tài s n của người bị hại mà còn gây nh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị c o một mức n nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị c o gây ra để c i tạo, gi o dục bị c o trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe c c đ i tượng kh c có ý đồ phạm tội tương tự.
[3]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn Nh đã thành khẩn khai b o. Đây là tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự được quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 ộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để gi m nhẹ hình phạt cho bị c o.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong vụ n này,bị c o Nguyễn Văn Nh thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa n tích. Đây là tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự được quy định tại điểm h kho n 1 điều 52 ộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần p dụng đ i với bị c o Nguyễn Văn Nh.
Về trách nhiệm dân sự:
Đã được gi i quyết xong trong vụ n: “Trộm cắp tài s n” theo b n n s 16/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa n nhân dân huyện B1, nên HĐXX không xem xét gi i quyết trong vụ n này.
Về hình phạt bổ sung:
ị c o không có nghề nghiệp nên không cần thiết p dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với bị c o.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Nh ph i nộp n phí hình sự sơ thẩm theo quy định của ph p luật
Về quyền kháng cáo: ị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kh ng c o theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của LTTHS.
Vì c c lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Kho n 1 Điều 268; Kho n 1 Điều 269 ộ luật t tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: ị cáo Nguyễn Văn Nh phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.
Áp dụng: Kho n 1 Điều 173; Điểm s kho n 1 Điều 51; Điểm h kho n 1 điều 52; Điều 38 ộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt:
ị c o Nguyễn Văn Nh 18 (Mười t m) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2021
Áp dụng: Kho n 2 Điều 135 ộ luật t tụng hình sự; Điểm a Kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/ U TVQH14 của Ủy ban thường vụ qu c hội quy định về mức Th, miễn, gi m, Th, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí tòa n.
ị c o Nguyễn Văn Nh ph i nộp 200.000 đồng n phí HSST
ị c o, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kh ng c o trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên n. ị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kh ng c o trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được b n n hoặc niêm yết b n án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -VKSND huyện B1; -Công an huyện BắcBình; -Chi cục THADS huyện B1; -Bị cáo, bị hại, người liên quan -Lưu HS+VP | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM QUỐC TUẤN |